Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013
TẬP THƠ “TIẾNG THỜI GIAN” CỦA VŨ NGỌC PHÀN (NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC – 2013)
Tiếp theo tập thơ “Khúc tự tình”, “Tiếng thời gian” là tập thơ thứ hai của Vũ Ngọc Phàn. Có thể nói, “Tiếng thời gian” là một bước tiến về chất lượng nghệ thuật so với tập thơ trước của anh.
Có thể nhìn nhận một tập thơ nào đó theo nhiều cách khác nhau. Với “Tiếng thời gian”, tôi đề cập đôi điều về cảm xúc cơ bản và phương thức thể hiện cơ bản của tập thơ.
1. Khác với nhiều tập thơ khác, “Tiếng thời gian” chứa đựng cảm xúc khá rõ nét về nỗi niềm tâm tư và triết luận xã hội.
Về nỗi niềm, rõ nhất là tâm trạng buồn. Thì chính nhà thơ đã thật lòng nói ra điều đó:
Tôi đành xếp lại mộng mơ
Để thơ tôi cũng vu vơ cùng buồn
(Buồn)
Nỗi niềm trong thơ Vũ Ngọc Phàn trải ra nhiều khía cạnh, chiều dạng vẻ khác nhau, có khi vì buồn mà đi lang thang – không phải lang thang thông thường, mà “lang thang trong đời” (Lang thang). Đi lang thang đến mỏi mệt, để rồi ngủ bên thềm nhà nào đó trong mưa đêm: “Chỉ còn bóng tối đan dầy/Và mưa ướt rũ lá cây bên thềm” (Giấc ngủ bên thềm). Tự biết đi lang thang là không hay, dễ thành tha nhân, nhưng may mắn là không như vậy:
Lang thang trời đất gần xa
Lang thang giữa những rừng già núi non
Lang thang giữa những vuông tròn
Lang thang... ngoái lại ta còn là ta
Bởi nỗi niềm, nên thơ Vũ Ngọc Phàn thường nói đến mưa, vì mưa gieo nỗi buồn day dứt; nói đến chiếc lá khô vì lá cạn kiệt màu xanh; nói đến đá vì đá cô đơn, bất lực; nói đến hoàng hôn, vì hoàng hôn thể hiện nỗi buồn ngày tàn nói đến giấc mơ vì mơ để trốn nỗi buồn , v. v Cũng có cả nỗi niềm trong sự bất ổn của tình yêu – một trạng thái khá phổ biến trong tình yêu đông tây - kim cổ. Nhà thơ mượn chuyện tình yêu qua mạng để bộc lộ tâm tư về tình yêu thiếu bền vững: “Niềm tin còn không mà sao buồn vô cớ/Tình đang cận kề hay tình đã đi xa”” (Tình qua mạng viễn thông”); hoặc: “ Tình rơi dầu dãi bến bờ/Hồn rơi chới với câu thơ giữa dòng” ( Rơi).
Có lẽ, những bất ổn của con người, của cuộc đời là nỗi niềm lớn nhất được bộc lộ trong tập thơ. Trước hết, đó là cuộc đời lặng thầm, lầm lũi của con người. Văn chương đã nói nhiều đến sự lặng thầm của con người – con người như cái bóng. Vũ Ngọc Phàn mượn đá để nói sự lặng thầm ấy:
Chiều nghiêng bóng đá nhạt nhòa
Phong phong thủy thủ ... Đá là đá thôi
Trời sinh kiếp đá thế rồi
Lặng im...Im lặng...Một đời...Lặng im...
(Đá phong thủy)
“Đá lặng im”, “Đá vu vơ”, “Đá đổ mồ hôi” là lời đá – thực ra là lời người - tự kể về những trạng thái của cuộc đời mình (Lời của đá). Vũ Ngọc Phàn có đến ba bài nói đến hoặc nói liên quan đến hồn ma. Phải chăng, phải viện đến hồn ma mới nói đến tận cùng bất ổn của con người? Nhà thơ mượn lời một con ma để nói thân phận mình vốn là con người như là những thứ công cụ không hơn không kém. Nhưng khi con ngườ chết đi, thì được thờ cúng, tôn vinh như là người bất tử:
Khi còn sống
Là người
Ta đâu được làm người
...
Khi ta chết thành ma
Trong góc tối nhất của bóng tối
Ha, ha
Ta được ngợi ca
Là con người bất tử!
(Bất tử)
Con người khi sống có cuộc đời khác nhau - “ma nào một thời tủi nhục/ma nào một thời vàng son”, nhưng khi chết đều thành ma cả, rồi con người ngẫm lại cuộc đời mình nơi cõi thế: “Những hồn ma xõa đầu ngẫm lại/Vết đời mờ tỏ dương gian” (Những hồn ma).
Cũng nói về hồn ma là bài thơ gồm ba khổ, với khổ thơ cuối cùng: “Hồn còn lưu luyến dân gian/Câu thơ hóa tiếng khóc than não nề/Trăm năm liền cõi đi về/Ước mong kiếp trước, lời thề kiếp sau” (Chiều trong nghĩa trang). Nhà thơ chia sẻ với người đã chết về kiếp luân hồi, về những gì đã qua và những gì sẽ đến.
Nỗi niềm về con người sâu nặng là biểu hiện rung cảm xúc sâu đậm của nhà thơ và chắc chắn sẽ gây xúc động không nhỏ đối với bạn đọc.
Cảm xúc của Vũ Ngọc Phàn theo hướng bình luận xã hội và triết luận nhân sinh cũng được bộc lộ đáng kể trong “Tiếng thời gian”. Nhà thơ dựa vào các hiện tượng xã hội và tự nhiên để bộc lộ cảm xúc dạng ấy của mình. Ý niệm về mặt “bất ổn” của cơ chế thị trường được nhà thơ thể hiện dưới hình thức thi ca: “ Người thắng nín khóc/người thua nhịn cười” – dù thắng hay thua đều chẳng ai vui và tình trạng “cả làng buôn trống buôn chiêng/Tháng Tư ngày Tám, tháng Giêng ngày Rằm – những gì thiêng liêng của làng quê cũng trở thành vật buôn bán! (Chợ làng).
Từ một câu chuyện cảm kể mang tính tượng trưng, nhà thơ nêu ra tình trạng bỏ rơi truyền thống của không ít người trong lớp trẻ hiện nay. Truyền thống do ông cha tạo nên dường như bị họ xóa bỏ:
Nhà cửa ngổn ngang bãi rác
Ông lắc đầu, cha lắc đầu
Buồn tiếc công lao vun đắp
Ai ngờ chúng thế này đâu!
(Chuyện nhà)
Nhà thơ xem xét lịch sử trong mối quan hệ giữa kẻ cấp trên và người dưới cấp. Người dưới cấp chịu mọi nỗi khổ đau và chính là người tạo nên lịch sử, quả như Bertolt Brecht đã thể hiện sự nhìn nhận này trong bài thơ của ông. Vũ Ngọc Phàn viết: “Vua dựng ngai vàng trên chiến công tướng lĩnh...”. Lịch sử được tạo nên bởi những người đã chết và người đang sống” “Thời gian ôm ghì sông núi/Những bóng người/Những bóng ma/Vần xoay thành lịch sử” (Theo dòng lịch sử).
Mượn kiến thức của khoa học tự nhiên và hiện tượng thiên nhiên, nhà thơ nói về những bí ẩn về con người nói chung, đặc biệt về cõi ý thức-tâm hồn con người nói riêng. “Nhiệt con tim không theo định luật Các-nô/Dòng chảy Bec-nu-li không giống dòng nước mắt...Khoảng cách giữa các vì sao/Ngắn hơn khoảng cách hai nhà cùng phố/Sự dữ dội điên cuồng của cơn giông tố/Dịu êm hơn những mối hận thù” (Tri thức)
Cũng theo cách của bài thơ “Tri thức”, sau khi nêu bật khả năng kỳ vĩ của con người, nhà thơ đặt câu hỏi: “Liệu con người có thể/Xây cho riêng mình/Góc nhỏ bình yên/Hạnh phúc tròn đầy?” (Sức mạnh).
Lối cảm xúc thơ được mượn từ khoa học tự nhiên và hiện tượng thiên nhiên dường như là ít gặp đối với các nhà thơ. Nhưng Vũ Ngọc Phàn đã khá thành công với lối mà xúc đó bởi anh có một tâm hồn nhạy cảm thi ca và là một nhà khoa học tự nhiên.
2. Không thể không nói về hình thức thể hiện cơ bản của tập thơ “Tiếng thời gian”. Tôi tạm chia hình thức ấy thành hai cách khác nhau: Cách trực cảm (không hiểu khái niệm này thuộc lý luận về quá trình nhận thức) và cách gián cảm. Trực cảm là cách mà hầu hết các nhà thơ thường làm. Gián cảm thường gặp ở một số nhà thơ cách tân-hiện đại. Tôi cũng tạm gọi có hai kiểu “thức” và “cảm” để bạn đọc tiếp nhận mỗi dạng thơ ấy: Với cách trực cảm, bạn đọc tiếp cận bài thơ bằng kiểu “thức”; với cách gián cảm, bạn đọc tiếp nhận bà thơ bằng kiểu “cảm”. Ở tập thơ “Tiếng thời gian”, chiếm phần lớn là những bài thơ trực cảm; còn lại là một số bài thơ kiểu “gián cảm” và như vậy, các bài thơ này đòi hỏi bạn đọc theo kiểu “cảm”. Tức là đọc xong bài thơ, người đọc không thể hiểu (“thức”) được một cách rành rọt bài thơ nói gì, mà chỉ cảm được bài thơ ấy nói gì mà thôi! Xin nêu một số bài thơ trong tập “Tiếng thời gian” để minh chứng cho điều đó. Người đọc chỉ có thể “cảm” được ở bài “Đêm thiêng liêng” như là một trạng thái tình yêu dứt day-đau đớn ; ở “Đêm không trăng” là tình trạng hỗn độn, không lối thoát của cuộc đời; ở “Tiếng thời gian” – bài thơ được lấy tên đặt cho cả tập – là thời gian như là biểu hiện của quá khứ, hiện tai và tương lai với những trạng thái động sôi hay tĩnh lặng, thao thức và ước mơ của con người; và nhiều bài khác...Cần nói thêm rằng, vì là “cảm” nên có sự “lệch pha” trong cảm nhận của độc giả, nghĩa là các độc giả có sự cảm nhận khác nhau, có khi trái ngược nhau. Điều đó là bình thường, thậm chí còn là điều thú vị của cảm nhận văn chương theo cách của tác phẩm mở!
Về hình thức nghệ thuật cụ thể của tập thơ, có thể kể đến lối điệp từ ở một số bài thơ, khiến ý tưởng bài thơ được được tô đậm và khẳng định mạnh mẽ. Hầu hết các bài thơ với khổ thơ hoặc những câu thơ cuối cùng đóng vai trò khái quát, nâng lên ý tưởng bài thơ ,thậm chí gây bất ngờ đối với người đọc. Thể thơ tự do là chủ yếu, một số bài là thể lục bát và thơ khổ với 5, 6 hay bảy chữ mỗi câu.
Nếu muốn nhắn gửi tác giả điều gì cần lưu ý, thì đó là, khi tập thơ được tái bản, cần thêm một số bài có nội dung trữ tình, thao thiết hơn, như các bài “Đừng nổi giận sông ơi”, “Nợ nụ cười”, “Trả nợ cho người”, “Bên mộ Hàn Mặc Tử”... Như vậy, giúp bạn đọc “pha loãng” cảm giác nặng nề khi đọc tập thơ đầy nỗi niềm và triết luận. Thêm nữa, đối với những bài thơ chứa đựng kiến thức về khoa học tự nhiên, cần được phổ thông hóa và thi ca hóa những kiến thức ấy; hoặc có chú thích ở cuối trang để người đọc có thể tiếp nhận bài thơ một cách tốt hơn.
Cảm ơn Vũ Ngọc Phàn về lời mời tôi viết giới thiệu tập thơ này; chúc mừng nhà thơ về sự ra đời tập thơ “Tiếng thời gian” và mong đợi những tập thơ tiếp theo của anh với chất lượng nghệ thuật cao hơn nữa!
Hà Nội, tháng 1-2013
M.T
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét