Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013
CHỈ LÀM THƠ CHO RIÊNG MÌNH (Đọc tập “Nhật ký thơ” của Thiều Quang Thắng) MAI THANH
Thiều Quang Thắng nguyên là Giám đốc Nhà xuất bản Tôn giáo. Anh vốn là sinh viên Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp – nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia Hà Nội. Trên 40 năm hoạt động, anh đã trải qua nhiều công tác khác nhau: Thanh niên, ngoại giao, tôn giáo và cuối cùng là xuất bản.
Anh yêu thơ là làm thơ khá đều đặn. Đến nay, anh đã có trên 100 bài thơ hầu như chưa công bố. Anh nói, “đó là những bài thơ chỉ viết cho riêng mình”.
Như nhiều người làm thơ khác, Thiều Quang Thắng cũng ghi lại những cảm xúc về tình yêu quê hương da diết: “Đông Sơn ơi! Bây giờ con mới biết/Từ buổi bình minh khi nhân loại vào đời/Người đã đến đây quây quần bên Núi Đọ/Sức góp sức chống những bầy thú dữ/Mài đá thành rìu tần tảo sớm khuya/Gây cuộc sống bằng chắt chiu từng quả/Từng miếng thịt rừng từng tấm vỏ che thân...” (“Quê hương tôi”); về tình yêu đất nước nồng nàn và lòng tự hào dân tộc: “Mấy vạn năm rồi nước non mình vẫn thế/Người đã đi rồi song tất cả còn đây/Từ Đại cáo bình Ngô kết tinh điều nhân nghĩa/Năm tháng tích dần thành trí tuệ hôm nay/Con cháu Bác Hồ tiến lên làm đổi mới/Bằng sức mạnh kết đoàn nghĩa cử cả ngàn phương...” (“Quê hương tôi”); về tình cảm với cha, với mẹ: “Khi đau buồn con lại về với Mẹ/Để mẹ vỗ về an ủi sẻ chia/.../Nay sung sướng con lại về với Mẹ/Mẹ đã đi rồi chỉ còn nắm đất đấy thôi/Đất thì sâu còn trời cao vời vợi/Con cứ kêu hoài bây giờ Mẹ ở đâu?/Mãi mãi linh thiêng Mẹ hãy về với con, Mẹ nhé/Để cuộc đời này bớt những nỗi trở trăn” (“Nhớ Mẹ”); với vợ: “Em yêu thương ngủ ngon em nhé/Bài hát ru anh ngẫm hát từng ngày/Để xa cách nối bến bờ trống vắng/Những con thuyền lướt trong giấc mơ” (“Tự hỏi”); với con: “Vì con, ba chăm đọc sách/Từng chữ ứ lại trong tim/Cho con ra đời đỡ tủi/Ba là thầy giáo đầu tiên...” (“Vì con”); với bạn bè, đồng đội: “Giữa Praha con gặp nhiều đồng đội/Đã một thời cầm súng vượt Trường Sơn/Đã một thời từng ở chốt cùng con.../Ôi! Những bạn bè tôi chưa một lần cầm súng/Ôi! Những bạn bè tôi chưa một lần ở chốt/Và tất cả những ai đã một lần cầm súng/Và tất cả những ai đã đã một thời ở chốt/Hãy nói dùm đồng đội tôi lời thường ngày chưa nói/Tổ quốc ơi! Hãy yên lòng Mẹ ơi! (“Hãy yên lòng Mẹ ơi!”). Đặc biệt, với chiến sĩ đang chiến đấu kiên cường và anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống quân bành trướng xâm lược, bảo vệ vững chắc biên cương thiêng liêng của Tổ quốc, anh có thơ khắc họa về họ vừa dung dị, vừa cao đẹp. Trong bài “Người đàn bà hát”, anh viết: “Tôi nhận ra trong trái tim người ca/Anh lính trẻ từ biên giới trở về/Còn cô gái tan ca về vội vã/Ra bến tàu đón anh, gặp anh/Họ hẹn nhau và họ gặp nhau/Trong căn nhà chỉ có hoa và gió/Hoa thoảng hương còn gió thì bảng lảng/Để hai người bên nhau lặng yên/Trong cái tĩnh yên bốn bề như trống vắng/Tiếng đàn ghi-ta nói thấu nhiều điều/Về những gì họ chưa kịp nói/Trong những ngày cách xa, rất xa. Hay, trong bài “Hãy yên lòng mẹ ơi!”, anh viết rất chân thực và đầy xúc động về hoàn cảnh chiến đấu của người chiến sĩ: “Chúng con lên đến đỉnh đồi/Người không còn sức nữa/ Lương khô vơi rồi/Nước vẻn vẹn một bi-đông/Ba đứa dựa lưng vào nhau/Thành cột mốc dấu biên cương Tổ quốc/Nhìn khoảng trời biên ải khói và mây...”. Về sự hy sinh đầy bi hùng của họ: “ Đồng chí, đồng hương đã thay Mẹ mỗi chiều/Thắp nén hương thơm cả khoảng trời biên ải/Tiễn chúng con đi vào đất Mẹ nghìn trùng/Bông lau trắng suốt triền đồi biên giới/Mãi ru hời muôn tiếng Mẹ, à ơi! “.
Trong khoảng thời gian 5 năm (1985 – 1990), với chức phận là Tùy viên giáo dục của Đại sứ quán ta tại Liên Xô, anh có dịp tiếp xúc với nhiều người trong cộng đồng Việt Nam đang lao động, học tập và nghiên cứu tại các nước cộng hòa trong Liên bang xô-viết. Có lẽ vì thế mà mảng thơ viết về nước Nga chiếm phần khá lớn trong tập “Nhật ký thơ” của anh. Cảm nhận về thiên nhiên hùng vĩ của nước Nga, anh viết: “Một chiều thu/Tôi say ngắm rừng Nga ở Lê-nin-grát/Những cây phong mốc trắng/Những cây thông nâu già/Cả rừng cây viết lên bầu trời màu sữa/Những câu thơ màu vàng, những câu thơ màu xanh...”. Khi tới miền Xi-bia-ri xa xôi của nước Nga, anh viết: “Chiều Xi-bia-ri không vàng mà trắng /Mây không trôi đứng ngẩn ngơ buồn/Chỉ có gió lang thang cùng khói/Và dáng rừng ngoi lên trong không gian”. Hay, đứng bên bờ sông Nê-va , nhìn kinh đô Xanh Pê-téc-pua ngày xưa của nước Nga, anh hát lên với tất cả sự bình yên tận đáy lòng mình : “Dọc bờ sông những tòa nhà bình yên/Màu trắng sữa hòa vào trời với đất /Còn dòng sông - sóng ơi là sóng/Mãi vỗ về rong ruổi với hoàng hôn...”. Song, trước thiên nhiên Nga hùng vĩ, trước con người Nga đôn hậu, trước đất nước Xô-viết đã và đang xáo trộn bởi cải tổ và công khai hóa, với sự linh cảm về một điều gì đó, anh bộc lộ cảm xúc của mình trong buổi tham quan Bảo tàng Ê-rờ-min-tát, một bảo tàng nổi tiếng thế giới có đến ba triệu hiện vật được trưng bày ở đây. Anh tự vấn: “Đâu là nỗi đau của chúng sinh?/Đâu là niềm hy vọng của thế nhân?/Đâu là sự bình yên cõi thế gian?/Mà sáng nay tôi đi trong bâng khuâng/Giữa dòng người trong E-rờ-min-tát.../ Giờ này, ở đâu sự bình yên của tôi?/Và giờ này,ở đâu, nỗi đau khổ của tôi?/ Mà chúng tôi đi trong tĩnh lặng ngác ngơ/Trước bao nhiêu nổi chìm nhân loại...” (“Hỏi A Đam và Ê va”).
Đọc tập “Nhật ký thơ” của Thiều Quang Thắng, tôi có ấn tượng đặc biệt với nỗi niềm nhân sinh và triết luận nhân văn khá sâu sắc, khiến người đọc phải tự vấn trước mình và ngẫm suy, chia sẻ với mọi người.
Về nỗi niềm nhân sinh, tác giả xúc động về cuộc mưu sinh cực nhọc của hàng triệu chị em đang lao động làm thuê ở phố thị hằng đêm. Với hình tượng thơ độc đáo là con vạc đi ăn đêm (loài chim này bay trên trời đêm, khi nghe dưới đất có tiếng người cũng kiếm ăn lầm lũi như chúng, thì chúng cất lên tiếng kêu chia sẻ cùng con người). Giống như thân phận người lao động, con vạc cũng chia sẻ với người cùng cảnh ngộ qua tiếng kêu của nó với bài thơ “Tiếng vạc” : “Giờ này! Ở đâu?/Vạc đánh rơi tiếng khóc/Trao cho người tha phương/ Thêm nỗi niềm ấm lạnh/Ôi! Tiếng vạc ngàn xưa/Đã đi mòn cối gạo/Chải bạc đầu mẹ tôi/Sao đêm nay tôi nghe/Giữa Hà thành đến lạ!”. Xúc động về cảnh ngộ muôn thuở của con người là yêu nhau mà không lấy được nhau, mượn tích chuyện chim thang cốc (còn gọi là chim từ quy) – loài chim mà con trống và con mái luôn cách xa nhau một cánh rừng, gọi nhau suốt đêm trường vẫn không gặp được nhau, tác giả cất lên tiếng kêu ai oán: “ Có ai hay biết/Chim thang cốc/Suốt năm canh gọi bầy?” (“Suy tưởng với mình”). Hay, cất tiếng kêu hoài vọng của tình yêu đôi lứa: “Đây rồi nhà của em tôi/Cửa im ỉm khóa hỏi ai bây giờ/Thôi đành mang nỗi đợi chờ/Theo ta đi suốt cuộc đời vắng nhau” (“Tìm em”). Và, có lẽ,nỗi niềm về nhân sinh, nhân thế trong anh dồn nén để rồi bộc ở bài thơ “Khúc hát ru của Mẹ” với hai đoản khúc. Tác giả mượn lời Mẹ để nói những điều Mẹ gửi lại cho con cháu và cho hậu thế là hãy quên đi những gì cần quên và nhớ những gì cần nhớ. Ở đoản khúc I, Mẹ khuyên con gái của Mẹ “... hãy quên đi cái dáng đi của Mẹ/Cái dáng đi suốt đời lận đận/Thân cò lặn lội bờ sông”; hãy “...đánh mất đi lời ru của Mẹ/Những lời ru đêm trường thâu thấu/Mẹ giã gạo nuôi đời tiếng khóc nỉ non...”,. Thậm chí, Mẹ còn hỉ xả nhắc nhở con: “...cố quên đi tấm thân khô của Mẹ/Bởi sinh lực cho đời Mẹ còn giữ gì đâu,v.v... Cần nói thêm rằng, Mẹ khuyên con “quên” những điều ấy, không có nghĩa là khuyên con làm điều bất nghĩa, là chối từ quá khứ, mà ý Mẹ là mong sao cuộc đời con không lặp lại như cuộc đời lận đận như Mẹ, để con “ngẩng cao đầu bước tới/Dẫu phía trước là chân trời đâu đã hết bão giông”. Ở đoản khúc II, Mẹ da diết nhắn gửi con gái yêu cần “giữ lại làn tóc xanh Mẹ tặng” – “cái làn tóc thuở tơ lòng bối rối/Để hương đời lên gió thổi bay bay...”; giữ lại “đôi mắt đen Mẹ trao” – “Đôi mắt đen của một thời con gái/Khi Ba con đi B, Mẹ cô quạnh nhìn đời/Đêm thâu thấu và ngày dài vô tận/Mẹ mới ngộ ra điều: Đời cần thế, nghe con!”. Đó là cả gia tài Mẹ đã trao cho con: “Một tình yêu nồng nàn như lửa/Để con đi trong giông bão cuộc đời/Để con nhìn bằng đôi mắt đen của Mẹ/Thâu thấu tình đời lắm nhớ, nhiều thương/Để con lo toan bằng trái tim của Mẹ/Biết dệt gấm dâng đời và cầm súng giữ quê hương...”.Nỗi niềm nhân sinh được kết tinh trong tình mẫu tử đến như vậy thì thật là đặc biệt.
Về triết luận nhân văn, có khi chỉ lóe lên như một chớp sáng nhằm cảnh tỉnh cuộc đời: “Tuyết trắng đến như thế/Sao em nỡ lội vào?//Để lại trên trắng trong/Bao nỗi niềm trần thế/Tuyết bay là hoa đấy/Tuyết tan là nước đấy/Hoa hướng về mặt trời/Nước đổ về biển cả//Thế còn anh và em?” (“Tuyết trắng”); có khi mượn ý tưởng Phật giáo “Sắc – Không” để triết luận về cuộc sống vận động phức tạp, khôn lường: “Muôn nẻo đường đời đâu chẳng đến/Bể dâu biến đổi Sắc rồi Không/Kiếp người luân chuyển Nhân rồi Quả”; rồi tác giả kết luận bài thơ bằng câu tự vấn đầy hoài nghi và suy ngẫm: “Chẳng lẽ cơ duyên là muôn thuở/Tọa thiền xa ngái mỏi mòn trông?” (“Vô đề”); có khi triết luận về sự khác thường, bất thường trong cuộc sống tưởng như trái quy luật, nhưng lại là điều có thật đang tồn tại qua hình tượng lá và hoa trong bài “Tức cảnh”: “Cây chưa kịp ra lá/Hoa đã vội trổ bông/Sao nỡ thế đời ơi/Để hoa trần không lá?”; có khi triết luận về sự xả thân đầy ẩn ức qua hình tượng con ve sầu thống thiết, dấn thân gọi đàn suốt đêm, để rồi sáng ra chỉ còn là cái xác trong bài thơ “Tiếng ve sầu”: “Giờ này! Ở đâu?/Con ve sầu kêu nhỉ! Nằm trong lăn trở/Lắng nghe đời thở/Những con ve sầu nén xác thâu đêm...”. Hay, từ một hiện tượng sinh hoạt cụ thể của đời thường, tác giả triết luận về một vấn đề rất lớn như là câu hỏi đặt ra trước loài người trong thế kỷ XXI: “Sáng sớm/Đường quanh Hồ Gươm có rất nhiều người chạy/Chạy thể thao và chạy đi làm/Xe máy chạy cùng ô-tô chạy/Mặt đường đường như nóng ấm lên/Cuối thế kỷ này đã chạy như thế/Liệu thế kỷ sau chạy đến thế nào?” (“Tốc độ”). Đời sống dân tộc ta cũng như thế giới, nhân loại đã phát triển như thế nào, ta đã rõ! Trong thế kỷ tới, sẽ phát triển với tốc độ nhanh hơn nhiều. Cuộc sống của mỗi người trong thế kỷ mới cũng vì thế mà bị kéo theo với tốc độ chóng mặt trên nhiều bình diện, với nhiều chiều kích khác nhau.
Hình thức thể hiện của tập “Nhật ký thơ” đáng được chú ý là lối xây dựng hình tượng thơ, trong nhiều trường hợp rất thành công như hình tượng con chim vạc – gây xúc động; cây không lá mà có hoa – gây bất ngờ ; người Mẹ cụ thể và người Mẹ Tổ quốc – tạo cảm nhận độc đáo, đa chiều về nhân sinh, nhân thế;... Thể thơ tự do với cách bộc lộ cảm xúc tự nhiên, chân mộc, chú ý về thi tứ hơn là về thi từ và vần điệu. Nếu gia công thêm về cách thể hiện, chắc chắn thơ Thiều Quang Thắng sẽ đạt tới chất lượng nghệ thuật cao hơn những gì mà tác giả đã đạt được. Song, nhìn chung, dù chưa công bố, tập “Nhật ký thơ” của tác giả Thiều Quang Thắng xứng đáng là một tập thơ đúng nghĩa.
Tập “Nhật ký thơ” của Thiều Quang Thắng cho thấy tác giả là một người có cuộc sống trải nghiệm và có tâm hồn khá nhạy cảm trước cuộc đời, mà rõ rệt nhất là cảm xúc về nỗi niềm nhân sinh và về triết luận nhân văn.
Ở một khía cạnh khác, qua tập “Nhật ký thơ”, có thể liên hệ thấy rằng, không chỉ một tác giả Thiều Quang Thắng, mà rất nhiều, rất nhiều người bình thường yêu mến văn chương và làm thơ, dù “chỉ làm thơ cho riêng mình”, nhưng có nhiều bài thơ thật sự là thơ.
Chúc mừng tác giả thơ Thiều Quang Thắng về tập “Nhật ký thơ” và mong anh có thêm những tập nhật ký thơ mới ; và hơn nữa, các tập thơ ấy không chỉ để dành riêng cho tác giả mà sớm được công bố trước đông đảo bạn đọc.
Hà Nội, tháng 10 – 2012
M.T
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét