Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

ĐÔI ĐIỀU SUY NGẪM VỀ SÁNG TẠO MỘT BÀI THƠ (Tiểu luận)

Có thể nói nhiều điều về thơ, song bài này chủ yếu nói về thơ gắn với hoạt động sáng tác, tức là những vấn đề có tính thực tiễn của thơ, cũng tức là trả lời câu hỏi rằng, để sáng tạo một bài thơ, cần nhằm vào đâu? Xin trả lời ngay: Nhằm vào ba mặt, đó là thi tứ, thi từ-thi ngữ và vần-điệu. 1.Về thi tứ, nội dung hay ý tưởng của bài thơ được gọi là thi tứ. Thi tứ gồm hai cấp độ: thi tứ cơ bản thể hiện ý tưởng của toàn bài thơ; thi tứ chi tiết là chi tiết hóa của thi tứ cơ bản. Thí dụ: Trong bài thơ “Thuyền và biển” của Xuân Quỳnh, thi tứ cơ bản chỉ rõ sự gắn bó chặt chẽ của tình yêu đôi lứa, thi tứ chi tiết là đôi lứa được ví với thuyền và biển mà chỉ mỗi người trong họ mới hiểu được về nhau mà thôi: “Chỉ có thuyền mới hiểu/Biển mênh mông nhường nào/Chỉ có biển mới biết/Thuyền đi đâu, về đâu/Những ngày không gặp nhau/Biển bạc đầu thương nhớ/Những ngày không gặp nhau/Lòng thuyền đau - rạn vỡ/Nếu từ giã thuyền rồi/Biển chỉ còn sóng gió...”. Điều này rất rõ đối với mỗi người làm thơ: Bắt đầu là cảm hứng về một đối tượng thi ca nào đó, rồi cái cảm hứng ấy được hình thành ra dáng hình của nó, đó là thi tứ cơ bản; thi tứ cơ bản được thể hiện qua các thi tứ chi tiết theo lô-gic tất yếu của cảm xúc và hình tượng thơ để tạo nên hệ thống thi tứ tổng thể của bài thơ. Cần chú ý “thi tứ cơ bản được thể hiện qua các thi tứ chi tiết theo lô-gic tất yếu của cảm xúc và hình tượng thơ”, bởi nếu không, bài thơ dễ bị dẫn vào cõi mung lung, vô định. Có lẽ, cũng nên nói đôi điều về các khái niệm thi ca “hướng nội” và “hướng ngoại”. Nói nôm na, hướng nội là cảm xúc của nhà thơ hướng vào chính mình; còn hướng ngoại là cảm xúc ấy hướng vào hiện thực bên ngoài. Nói vậy chỉ là tương đối, chứ thực ra, rút cục đều quy về “hướng nội” mà thôi, bởi thơ ca là trạng thái phản ứng của tâm hồn thi sĩ, mà tâm hồn thi sĩ thì tất yếu là “nội” rồi! Thì đó: Bài thơ “Chiều trên Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan phải đâu là hướng ra cái cảnh sắc thiên nhiên của con đèo, mà chính là sự bộc lộ nỗi niềm bên trong của Bà thông qua cảnh sắc ấy về một thời hoàng kim đã trôi vào dĩ vãng...Đó cũng chính là cái bản ngã trong cuộc đời cũng như trong thi ca vậy! 2. Tuy nhiên, chỉ riêng thi tứ, chưa phải là bài thơ, thường nó chỉ tồn tại trong đầu thi sĩ. Cũng có nhà thơ viết thi tứ ra trên giấy hoặc vào máy vi-tính, thì nhiều lắm, đó cũng chỉ là phác thảo của một bài thơ. Muốn trở thành thơ, thi tứ phải được thi từ-thi ngữ hiển thị hóa. Thi từ là từ mang yếu tố thơ; tương tự, thi ngữ là một nhóm từ mang yếu tố thơ - khác với từ-ngữ thông thường là ở chỗ ấy. Chính nhờ yếu tố thi ca mà các từ và ngữ giúp cho thi tứ thành thơ. Các thi từ-thi ngữ giữ vai trò hết sức quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định sự thành công của bài thơ. Thí dụ, để thể hiện về tinh thần đoàn kết tạo nên sức mạnh mà viết là: “Anh em đồng chí chúng ta/ Cùng nhau đoàn kết để mà tiến lên!”, thì không thể coi đó là thơ. Nhưng với thi từ và thi ngữ có sức biểu cảm mà viết rằng: “Tay trong tay, vai bên vai ta đi/Ngạo nghễ ngực trần, nguy hiểm, nề chi!” thì có thể coi là thơ rồi. Vì sao vậy? Là nhờ các thi từ-thi ngữ “Tay trong tay”, “vai bên vai”, “ngạo nghễ ngực trần”, “ nề chi!”... tạo nên thành công của thi tứ “kết đoàn tiến lên” nói trên. Đặc điểm của thi từ-thi ngữ là kín, đẹp và mới. Về kín, người xưa nói: “Thi mạch kỵ lộ” nghĩa là thơ không được nói lộ liễu ý tứ. Lộ hay không cũng là do thi từ-thi ngữ mà thôi! Ý tứ mà lộ thì không còn là thơ, nhiều lắm cũng chỉ được gọi là diễn nôm hoặc vè. Về đẹp, từ-ngữ đẹp không phải là từ-ngữ hoa mỹ, mà là sức biểu đạt của nó trúng và đúng với thi tứ và nhất là có sức gợi cảm. Về mới, tức là sáng tạo thi từ mới – điều này khó, nhưng không phải là không thể. Nhưng phổ biến là dùng từ ngữ trong thi cảnh nhất định, để tạo nên trạng thái thẩm mỹ đặc biệt, thí dụ “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” (Khương Hữu Dụng) hoặc “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng cũng là trường hợp tương tự. Là thể thơ tự do, nhưng “Tây tiến” gây thích thú đối bạn đọc bằng các câu với những thi từ-thi ngữ như: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống/Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, hay: “Nhớ ôi, Tây Bắc cơm lên khói/Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”... Như vậy, với thi từ-thi ngữ càng “kín”, thơ càng hay. Song, nhất thiết, tránh tình trạng lạm dụng đặc điểm này của thi từ-thi ngữ, để đưa bài thơ vượt qua ranh giới khó hiểu, sa vào tình trạng không hiểu nổi đối với người đọc, ngay cả đối với người đọc sành thơ! 3. Không thể tưởng tượng được là thơ không có vần-điệu. Từ xưa đã thế, nay vẫn thế! Nói vần điệu là nói chung, thật ra là vần và điệu. Vần thì đã quá rõ, như đối với các dạng thơ Đường luật, lục bát, song thất lục bát, thơ ba, bốn, năm, bảy chữ ... có luật gieo vần nhất định. Thơ tự do không theo luật vần nhất định, nhưng có điệu, mà điệu thì đa dạng lắm, như có vần linh hoạt-hạn chế, có âm điệu, ngữ điệu, tiết tấu... Ngay cả dạng thơ được gọi là “thơ văn xuôi” cũng có âm hưởng thi ca. “Thơ văn xuôi” có "họ hàng" với "văn xuôi giàu chất thơ". Về loại văn này, đáng kể đến là các bài “Trung thu độc lập” và “Cây tre Việt Nam” của nhà văn Thép Mới. Đọc lại bài ký “Trung thu độc lập”, ta cảm thấy yếu tố thi ca toát ra rõ rệt, thí dụ một vài câu: “Đêm nay anh đứng ở gác trại. Trăng ngàn, gió núi bao la, khiến lòng anh man mác nghĩ tới trung thu, nghĩ tới các em. Nghĩ tới các em là anh nghĩ tới cả một thời thơ ấu của anh, của tất cả chúng anh...”. Văn giàu chất thơ là vậy, nhưng thơ văn xuôi thì không thể xa rời thi điệu. Có tình hình thơ phát triển đến thơ tự do, thơ văn xuôi bởi thơ có vần không chứa đựng hết ý tưởng của thi sĩ. Nhưng, đã là thơ thì không thể không có vần hoặc điệu. Nguyễn Đình Thi có nhiều bài thơ thể tự do, nhưng ông coi trọng điệu trong thơ, thậm chí, ông còn sử dụng vần linh hoạt-hạn chế, thí dụ: “Súng nổ rung trời giận dữ/Người lên như nước vỡ bờ/Nước Việt Nam từ máu lửa/Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Rõ ràng, vần linh hoạt-hạn chế của các câu thơ trên thể hiện ở “dữ” với “lửa” và “bờ” với “lòa”... Xin hiểu cho rằng: Giai âm trong nhạc khiến người nghe đắm đuối, say mê – đó là thế mạnh của nhạc! Thơ vốn đã có chút ít giai âm của nhạc – đó là vần-điệu, dại gì mà các nhà thơ cắt bỏ nó đi? * Nhìn chung, các dạng thơ hiện nay thể hiện theo tinh thần những điều trình bày trên đây, nhất là thơ cách tân có căn cứ, tạo nên hấp dẫn đối với người đọc. Tuy nhiên, cũng có những bài thơ dè dặt, bảo thủ trong cách thể hiện, gây cảm nhận là sáo mòn, tẻ nhạt. Ngược lại, cũng có những bài thơ “cách tân” không căn cứ dẫn đến vô định, không hiểu nổi, gây khó chịu đối với độc giả. Vấn đề là thi tứ, thi từ-thi ngữ, vần-điệu đồng hành cùng cảm hứng thi ca, nhà thơ tạo nên tác phẩm nghệ thuật, trong đó, “cái tôi” của tác giả cùng với “cái ta” của độc giả hòa quyện vào nhau. Hà Nội, tháng 6-2011 Mai Thanh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét