Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

HỒN THƠ NGUYỄN ĐÌNH BẮC (Đọc tập thơ “Hoa bất tử” của Nguyễn Đình Bắc – NXB Văn học – 2011) Nằm trong khuôn khổ cảm xúc đa dạng về đề tài, về nội dung, “Hoa bất tử” của nhà thơ Nguyễn Đình Bắc nổi trội lên là các mạch ý tưởng về tình người, về lẽ đời và về hoài niệm thiêng liêng. 1. Tình người, trước hết là tình Mẹ. Nói tình Mẹ trong mối quan hệ các thế hệ, anh chị em trong gia đình: Nhà thơ đưa ra cái khung cảnh “Ngày giỗ Mẹ”, từ đó nói về gia cảnh: Bản thân mình là con thứ phải thay nghĩa vụ anh cả đã mất; chị dâu vất vả, đàn cháu bần hàn... khiến lòng nhà thơ “chẳng xát muối mà lòng đau/không ngậm bồ hòn mà sao đắng chát” (“Ngày giỗ Mẹ”, tr.13). Chưa hết, “chị gái ở xa, tuổi già... vắng mặt/Chị gái ở gần.../đôi chân trần lấm láp/ngót bảy chục tuổi đầu vẫn lo kế sinh nhai...”. Nghèo nàn, thiếu thốn là vậy, nhưng các con vẫn “thơm thảo vẹn toàn/trung trinh chữ hiếu”, hướng về Mẹ: Lạy cùng hồn mẹ tinh anh Lòng con dông bão Thắp nén tâm nhang trọn tấm lòng hiếu thảo Dâng Người tận chốn cao xanh Nguyện dâng hồn Mẹ an lành! (“Ngày giỗ Mẹ”, tr.13) Chỉ một bài thơ về giỗ Mẹ, Nguyễn Đình Bắc nói được khá đầy đủ cái gia cảnh không chỉ của riêng anh, mà dường như của hầu hết các gia đình Việt Nam thuộc thế hệ này. Với “Đóa hoa thiên thu”, Nguyễn Đình Bắc gửi gắm trọn vẹn tình yêu thương, niềm tin tưởng vào con gái yêu quý của mình: Giữa ngan ngát hương thơm đồng nội Con hãy là đóa sen thiên thu Cha mãi mãi bên con sớm tối Cùng mẹ dành ngân ngấn lời ru (“Đóa sen thiên thu”, tr.34) Từ cảm xúc về người trong gia đình - họ hàng, Nguyễn Đình Bắc đi tới cảm xúc về người trong xã hội. Đó là người lính trong ba bài thơ “Tin bão xa” với ý chí “một tấc đất Cha Ông muôn đời gìn giữ/Thì bão dông chớp giật có hề chi/và khi cần lấy máu chép sử thi (tr.55); “Cánh phượng cuối cùng” với nỗi đau của người mẹ liệt sĩ: “Đã bao mùa phượng nở/Mẹ nhìn vào cõi xa xăm/Thời gian úa vàng trang vở/Chưa hay mảnh đất con nằm” (tr. 57) và “Chiều cuối năm” (tr.59) với tượng đài liệt sĩ được dựng lên “Tên các anh đã tạc vào thế kỷ/Để Trường Sơn xanh mãi đến vô cùng”. Đó là người phụ nữ chân quê với biết bao vất vả bộn bề để có được mùa gặt “ba tháng trông cây, một ngày trông quả”, để “mẹ già thêm áo lụa/em thơ nhí nhảnh đến trường” (“Mùa gặt”, tr.19); đó là “người mẹ bán rau” với “chiếc đòn gánh trên vai/đôi chân mỏi mòn phố nhỏ...Ngọn rau tươi, mồ hôi mẹ mặn mòi/Chát đầu lưỡi, chát trong từng hơi thở” (“Người mẹ bán rau”, tr.73); đó là chú bé đánh giầy không tổ ấm gia đình, không xứ sở quê hương: Chú bé quay đi như nén nỗi u sầu Rồi nghèn nghẹn: “con còn quê đâu chú Nơi hè phố là nơi con trú ngụ Bởi mẹ cha đã vào trại lâu rồi” (“Vị đắng”, tr.74) 2. Lẽ đời thực chất là triết luận về cuộc đời trong “Hoa bất tử”. Đó là bài thơ “Nói chuyện lão hành khất”: Gã ấy nói với nhà thơ rằng, gã chỉ ăn mày, chứ không ăn cắp! Bài thơ gợi cho chúng ta một sự so sánh giữa việc làm của người nghèo ăn mày với việc làm của kẻ chức quyền tham ô nhũng lạm! Ăn mày không có gì là xấu cả, chỉ kẻ tham ô nhũng lạm kia mới thật sự xấu! Một triết luận về phân biệt giữa cái bên trong và cái bên ngoài, giữa cái đẹp đẽ và cái xấu xa mang tính thời sự hiện nay. Nhà thơ khẳng định điều đó và “cười... cười ra nước mắt” (“Nói chuyện với gã hành khất”, tr.70”). Đó là bài thơ “Cái bóng” nhằm phê phán nhẹ nhàng thói tự huyễn hoặc, ảo tưởng về cái gì không có thật để rồi “xa xót bao lần/chỉ tại ta nhìn vào cái bóng” (Cái bóng, tr.90); là những câu hỏi về mọi chuyện, mà day dứt là chuyện bươn bả, đua chen trong cuộc đời này: “Hỏi cuộc đời này biết đâu được mất/Mà nhân gian tất bật đến vô tình” (“Hỏi”, tr.91); là triết lý về hai mặt tốt-xấu của cuộc đời và nhà thơ “nguyện cầu sao cho chỉ có mặt người thánh thiện như tranh” (“Đôi mắt”, tr.92); là ước nguyện của nhà thơ về một cuộc đời chỉ có tiếng cười, muốn thế thì con người khi mới sinh ra đừng khóc, mà nên cười: “Cuộc đời muốn vui trọn vẹn/sinh ra có lẽ... nên cười” (“Có lẽ...nên cười”, tr.93); là nỗi niềm nhà thơ khi nhìn vào cái chợ đời nhọc nhằn cơm áo, vất vả mưu sinh, xen với vinh hoa quyền quý thì nhà thơ thốt lên “đâu biết ai tri kỷ để ta tìm?” (“Giữa chợ”, tr.94). Thơ triết luận xã hội thường ít gặp. Với mảng thơ này, “Hoa bất tử” góp cho mảng thơ triết luận xã hội những bài thơ đáng kể. 3. “Hoài niệm thiêng liêng” là một mạch thơ đáng kể trong “Hoa bất tử”. Trước hết, là về quê hương. Nguyễn Đình Bắc có “Nhớ một miền quê” (tr.6); có “Quê hương còn mãi một con đường” (tr.7); có “Cánh diều tuổi thơ” (tr.11); đặc biệt, có dòng sông tuổi thơ. Đã nhiều thơ và nhạc nói về dòng sông, nhưng dòng sông của Nguyễn Đình Bắc là dòng sông của Mẹ, dòng sông về Mẹ: Hôm nay trở về miền quê cũ Ngụp lặn trong dòng sông tuổi thơ Tìm cánh buồm nâu đang rẽ sóng Chở đầy tiếng Mẹ... khúc ầu ơ! (“Dòng sông tuổi thơ”, tr.9) Hoài niệm thiêng liêng cũng là hoài niệm về mối tình dĩ vãng, là dáng xưa chan chứa cõi tâm hồn hòa quyện với cảnh sắc mộc mạc thân quen nơi quê kiễng: “Tôi vẫn đi tìm trong dáng xưa/Nhà cao chẳng khuất vách lau thưa/Vàng son chẳng át vầng trăng tỏ/Và dáng hình ai dưới bóng dừa” (“Dáng xưa”, tr.21). Hơn thế, một tình yêu vùi sâu vào kỷ niệm, nhà thơ thầm thì với em rằng: “Ta giữ cho nhau từng hơi ấm/Của tình yêu sâu đậm buổi ban đầu/Để tâm hồn mãi mãi thuộc về nhau” (“Em ở cuối phương trời”, tr.25). Thăm Bản Lác, Nguyễn Đình Bắc hoài niệm về một thời với bài thơ “Tây tiến” của Quang Dũng (“Bản Lác mùa xuân”, tr.39); thăm Yên Tử, nhà thơ hoài tưởng về một cõi thần tiên: “Rũ sạch đam mê trần thế/Tâm hồn tựa ánh sao bay” (“Yên Tử - Cõi thần tiên”, tr. 41). Vì nặng lòng với hoài niệm, nên nhà thơ cũng rạo rực với những bất chợt đến với mình: Rung động khi các mùa đến trong năm, khi cơn gió thổi qua, khi thoang thoảng mùi hương hoa bưởi... Và, nhất là, khi bất chợt gặp lại em xưa... “Hoa bất tử” là tập thơ đa dạng về ý tưởng, hơn thế nữa, là ý tưởng được tác giả chịu khó tìm tòi, do đó, là một tập thơ phong phú về nội dung, đậm đà chất văn hóa - nhân văn. Về cách thể hiện, “Hoa bất tử” chủ yếu là thể thơ tự do được chú ý thỏa đáng về thi điệu.Thi từ - thi ngữ chọn lọc, gây ấn tượng đáng kể. Cảm xúc chủ yếu thuộc dạng tự tình, có cả cảm kể và cảm tả. Bắt đầu tìm tòi cách thể hiện lấy âm từ để dẫn dắt cho bài thơ như âm “i” trong bài “Lăn tăn...Li ti” (tr.43)... Cảm ơn Nguyễn Đình Bắc về “Hoa bất tử”! Chúc nhà thơ có nhiều sáng tạo, tiếp tục cho ra mắt bạn đọc nhiều tập thơ hay hơn nữa! Hà Nội, tháng 10-2011 Mai Thanh (Đọc trong buổi ra mắt tập thơ)

Nằm trong khuôn khổ cảm xúc đa dạng về đề tài, về nội dung, “Hoa bất tử” của nhà thơ Nguyễn Đình Bắc nổi trội lên là các mạch ý tưởng về tình người, về lẽ đời và về hoài niệm thiêng liêng. 1. Tình người, trước hết là tình Mẹ. Nói tình Mẹ trong mối quan hệ các thế hệ, anh chị em trong gia đình: Nhà thơ đưa ra cái khung cảnh “Ngày giỗ Mẹ”, từ đó nói về gia cảnh: Bản thân mình là con thứ phải thay nghĩa vụ anh cả đã mất; chị dâu vất vả, đàn cháu bần hàn... khiến lòng nhà thơ “chẳng xát muối mà lòng đau/không ngậm bồ hòn mà sao đắng chát” (“Ngày giỗ Mẹ”, tr.13). Chưa hết, “chị gái ở xa, tuổi già... vắng mặt/Chị gái ở gần.../đôi chân trần lấm láp/ngót bảy chục tuổi đầu vẫn lo kế sinh nhai...”. Nghèo nàn, thiếu thốn là vậy, nhưng các con vẫn “thơm thảo vẹn toàn/trung trinh chữ hiếu”, hướng về Mẹ: Lạy cùng hồn mẹ tinh anh Lòng con dông bão Thắp nén tâm nhang trọn tấm lòng hiếu thảo Dâng Người tận chốn cao xanh Nguyện dâng hồn Mẹ an lành! (“Ngày giỗ Mẹ”, tr.13) Chỉ một bài thơ về giỗ Mẹ, Nguyễn Đình Bắc nói được khá đầy đủ cái gia cảnh không chỉ của riêng anh, mà dường như của hầu hết các gia đình Việt Nam thuộc thế hệ này. Với “Đóa hoa thiên thu”, Nguyễn Đình Bắc gửi gắm trọn vẹn tình yêu thương, niềm tin tưởng vào con gái yêu quý của mình: Giữa ngan ngát hương thơm đồng nội Con hãy là đóa sen thiên thu Cha mãi mãi bên con sớm tối Cùng mẹ dành ngân ngấn lời ru (“Đóa sen thiên thu”, tr.34) Từ cảm xúc về người trong gia đình - họ hàng, Nguyễn Đình Bắc đi tới cảm xúc về người trong xã hội. Đó là người lính trong ba bài thơ “Tin bão xa” với ý chí “một tấc đất Cha Ông muôn đời gìn giữ/Thì bão dông chớp giật có hề chi/và khi cần lấy máu chép sử thi (tr.55); “Cánh phượng cuối cùng” với nỗi đau của người mẹ liệt sĩ: “Đã bao mùa phượng nở/Mẹ nhìn vào cõi xa xăm/Thời gian úa vàng trang vở/Chưa hay mảnh đất con nằm” (tr. 57) và “Chiều cuối năm” (tr.59) với tượng đài liệt sĩ được dựng lên “Tên các anh đã tạc vào thế kỷ/Để Trường Sơn xanh mãi đến vô cùng”. Đó là người phụ nữ chân quê với biết bao vất vả bộn bề để có được mùa gặt “ba tháng trông cây, một ngày trông quả”, để “mẹ già thêm áo lụa/em thơ nhí nhảnh đến trường” (“Mùa gặt”, tr.19); đó là “người mẹ bán rau” với “chiếc đòn gánh trên vai/đôi chân mỏi mòn phố nhỏ...Ngọn rau tươi, mồ hôi mẹ mặn mòi/Chát đầu lưỡi, chát trong từng hơi thở” (“Người mẹ bán rau”, tr.73); đó là chú bé đánh giầy không tổ ấm gia đình, không xứ sở quê hương: Chú bé quay đi như nén nỗi u sầu Rồi nghèn nghẹn: “con còn quê đâu chú Nơi hè phố là nơi con trú ngụ Bởi mẹ cha đã vào trại lâu rồi” (“Vị đắng”, tr.74) 2. Lẽ đời thực chất là triết luận về cuộc đời trong “Hoa bất tử”. Đó là bài thơ “Nói chuyện lão hành khất”: Gã ấy nói với nhà thơ rằng, gã chỉ ăn mày, chứ không ăn cắp! Bài thơ gợi cho chúng ta một sự so sánh giữa việc làm của người nghèo ăn mày với việc làm của kẻ chức quyền tham ô nhũng lạm! Ăn mày không có gì là xấu cả, chỉ kẻ tham ô nhũng lạm kia mới thật sự xấu! Một triết luận về phân biệt giữa cái bên trong và cái bên ngoài, giữa cái đẹp đẽ và cái xấu xa mang tính thời sự hiện nay. Nhà thơ khẳng định điều đó và “cười... cười ra nước mắt” (“Nói chuyện với gã hành khất”, tr.70”). Đó là bài thơ “Cái bóng” nhằm phê phán nhẹ nhàng thói tự huyễn hoặc, ảo tưởng về cái gì không có thật để rồi “xa xót bao lần/chỉ tại ta nhìn vào cái bóng” (Cái bóng, tr.90); là những câu hỏi về mọi chuyện, mà day dứt là chuyện bươn bả, đua chen trong cuộc đời này: “Hỏi cuộc đời này biết đâu được mất/Mà nhân gian tất bật đến vô tình” (“Hỏi”, tr.91); là triết lý về hai mặt tốt-xấu của cuộc đời và nhà thơ “nguyện cầu sao cho chỉ có mặt người thánh thiện như tranh” (“Đôi mắt”, tr.92); là ước nguyện của nhà thơ về một cuộc đời chỉ có tiếng cười, muốn thế thì con người khi mới sinh ra đừng khóc, mà nên cười: “Cuộc đời muốn vui trọn vẹn/sinh ra có lẽ... nên cười” (“Có lẽ...nên cười”, tr.93); là nỗi niềm nhà thơ khi nhìn vào cái chợ đời nhọc nhằn cơm áo, vất vả mưu sinh, xen với vinh hoa quyền quý thì nhà thơ thốt lên “đâu biết ai tri kỷ để ta tìm?” (“Giữa chợ”, tr.94). Thơ triết luận xã hội thường ít gặp. Với mảng thơ này, “Hoa bất tử” góp cho mảng thơ triết luận xã hội những bài thơ đáng kể. 3. “Hoài niệm thiêng liêng” là một mạch thơ đáng kể trong “Hoa bất tử”. Trước hết, là về quê hương. Nguyễn Đình Bắc có “Nhớ một miền quê” (tr.6); có “Quê hương còn mãi một con đường” (tr.7); có “Cánh diều tuổi thơ” (tr.11); đặc biệt, có dòng sông tuổi thơ. Đã nhiều thơ và nhạc nói về dòng sông, nhưng dòng sông của Nguyễn Đình Bắc là dòng sông của Mẹ, dòng sông về Mẹ: Hôm nay trở về miền quê cũ Ngụp lặn trong dòng sông tuổi thơ Tìm cánh buồm nâu đang rẽ sóng Chở đầy tiếng Mẹ... khúc ầu ơ! (“Dòng sông tuổi thơ”, tr.9) Hoài niệm thiêng liêng cũng là hoài niệm về mối tình dĩ vãng, là dáng xưa chan chứa cõi tâm hồn hòa quyện với cảnh sắc mộc mạc thân quen nơi quê kiễng: “Tôi vẫn đi tìm trong dáng xưa/Nhà cao chẳng khuất vách lau thưa/Vàng son chẳng át vầng trăng tỏ/Và dáng hình ai dưới bóng dừa” (“Dáng xưa”, tr.21). Hơn thế, một tình yêu vùi sâu vào kỷ niệm, nhà thơ thầm thì với em rằng: “Ta giữ cho nhau từng hơi ấm/Của tình yêu sâu đậm buổi ban đầu/Để tâm hồn mãi mãi thuộc về nhau” (“Em ở cuối phương trời”, tr.25). Thăm Bản Lác, Nguyễn Đình Bắc hoài niệm về một thời với bài thơ “Tây tiến” của Quang Dũng (“Bản Lác mùa xuân”, tr.39); thăm Yên Tử, nhà thơ hoài tưởng về một cõi thần tiên: “Rũ sạch đam mê trần thế/Tâm hồn tựa ánh sao bay” (“Yên Tử - Cõi thần tiên”, tr. 41). Vì nặng lòng với hoài niệm, nên nhà thơ cũng rạo rực với những bất chợt đến với mình: Rung động khi các mùa đến trong năm, khi cơn gió thổi qua, khi thoang thoảng mùi hương hoa bưởi... Và, nhất là, khi bất chợt gặp lại em xưa... “Hoa bất tử” là tập thơ đa dạng về ý tưởng, hơn thế nữa, là ý tưởng được tác giả chịu khó tìm tòi, do đó, là một tập thơ phong phú về nội dung, đậm đà chất văn hóa - nhân văn. Về cách thể hiện, “Hoa bất tử” chủ yếu là thể thơ tự do được chú ý thỏa đáng về thi điệu.Thi từ - thi ngữ chọn lọc, gây ấn tượng đáng kể. Cảm xúc chủ yếu thuộc dạng tự tình, có cả cảm kể và cảm tả. Bắt đầu tìm tòi cách thể hiện lấy âm từ để dẫn dắt cho bài thơ như âm “i” trong bài “Lăn tăn...Li ti” (tr.43)... Cảm ơn Nguyễn Đình Bắc về “Hoa bất tử”! Chúc nhà thơ có nhiều sáng tạo, tiếp tục cho ra mắt bạn đọc nhiều tập thơ hay hơn nữa! Hà Nội, tháng 10-2011 Mai Thanh (Đọc trong buổi ra mắt tập thơ)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét