Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013
MỘT NHÀ THƠ VIẾT VĂN XUÔI KÝ VÀ TRUYỆN CỦA QUANG KHẢI (“Tìm gì ở phía hoàng hôn”- NXB Hội Nhà văn – 2011)
Cuốn sách là một tập ký và truyện của một nhà thơ quê hương Thái Bình và nguyên là biên tập viên của một nhà xuất bản. Tập sách gồm ba phần lớn: Về bản thân, gia đình và quê hương; về “các nẻo đường muôn vẻ” mà tác giả đã đi qua; và lời của các bạn văn chương nói về ký của tác giả.
1.Ở phần thứ nhất, Quang Khải kể rất thật về mình, về gia đình họ hàng và làng quê mình. Anh kể về thời học sinh phổ thông ở trường Dốc Lòng quê anh. Là một học trò ngoan, nhưng học hành không giỏi, nói đúng ra là anh học lệch, nên chỉ giỏi môn văn, các môn toán, lý, hóa thường là điểm kém, nên nhiều khi bị thầy giáo cảnh cáo là học lệch. Quang Khải tự nhận mình là học trò ngoan, thì đúng thật! Nói chung, các thầy thường nhớ ba loại học trò: học giỏi, ngoan ngoãn, hoặc nghịch ngợm. Quang Khải thuộc loại thứ hai. Nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Lê Xuân Tùng, ngày ấy là giáo viên dạy lịch sử ở trường quê anh, có lẽ vì thế mà rất nhớ anh. Quang Khải kể: “... Cả những thầy giáo lúc đang ở cương vị cao, giữ những chức trách lớn như thầy Lê Xuân Tùng, một lần tình cờ, tôi gặp ở Thành ủy Hà Nội, thầy sẽ sàng nhắc lại những kỷ niệm về trường Dốc Lòng; thầy bảo thầy vẫn thích làm thơ lắm và tôi không quên chuyện thầy tìm lục hồ sơ của tôi bị thất lạc hồi thầy còn dạy khoa sử Trường Đại học Tổng hợp. Câu chuyện thầy trò thật thân tình ấm áp”(tr.28). Quang Khải kể nhiều chuyện về gia đình. Song, có lẽ gây xúc động nhất đối với người đọc là chuyện “Tấm ảnh để lại”(tr.5). Chuyện kể rằng: Vợ anh còn rất trẻ, tiếc thương thay, chị bị bệnh hiểm nghèo, biết mình không qua khỏi, nhưng không có một tấm ảnh để lại cho chồng con sau khi “ra đi”. Chị tắm gội sạch sẽ, chải tóc mượt mà, thoa chút phấn, bôi chút son trang điểm, đi tới hiệu ảnh, để có một tấm ảnh chân dung vừa ý. Khi ngồi trước ống kính máy ảnh, nỗi thương chồng, xót con dội lên, chị nấc một tiếng khẽ, rồi từ đôi mắt chị, bắt đầu nhỏ ra hai giọt nước mắt. Đúng lúc ấy, người thợ ảnh bấm máy! Từ ngày chị “ra đi”, tấm ảnh đặt trên bàn thờ chị, ai nhìn vào cũng thấy như chị đang khóc, bởi hai giọt nước mắt sắp trào rơi: Người đã chết khóc thương người đang sống là vậy!
Nói về quê hương, tác giả kể nhiều chuyện, song, chuyện về những con người nổi tiếng gây ấn tượng nhiều nhất đối với tác giả và cũng là đối với bạn đọc. Đó là Nguyễn Quang Bích (tức Ngô Quang Bích) thi đậu Hoàng giáp đời Tự Đức, xây dựng lực lượng, tích trữ lương thực, tính kế chống Pháp xâm lược lâu dài. Khi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, ông được trao trọng trách thống lĩnh toàn bộ lực lượng chống Pháp ở Bắc Kỳ. Nghĩa quân của ông chiến đấu ròng rã 6 năm trời trên dọc lưu vực sông Đà, sông Thao, làm cho quân thù nhiều phen khiếp đảm. Đó là Bùi Viện và Nguyễn Khuyến kết thân bè bạn khi họ còn ở tuổi “bạch diện thư sinh”. “Sau này, một người chỉ vài năm sau được vinh danh là Tam Nguyên Yên Đổ, còn thơ văn Nguyễn Khuyến thì lưu danh mãi đến đời sau. Còn Bùi Viện cũng đời sau mới biết đến ông: là sứ thần người Việt đầu tiên hai lần vượt đại dương tới Hoa Kỳ, giữa thời “triều thần còn lơ láo”(tr. 36). Đó là ông ngoại của chính tác giả - ông Cai Bộc, tức Đặng Duy Tá, theo thủ lĩnh Ngô Quang Bích, người cùng làng Trình Phố. Ông từng vượt côn Đảo, từng cướp của nhà giàu để cung cấp lương thực cho nghĩa quân Tây Bắc. Chân dung Cai Bộc còn được khắc họa thêm: “Cai Bộc đi vào mạn Thanh Hóa... Ông phải vượt sông Đà, đi bộ, qua mạn Hòa Bình rồi vào xứ Thanh. Từ Thanh Hóa sang Nghệ An đã có trạm liên lạc của Tống Duy Tân đảm nhận” (tr.48). Như vậy, ông ngoại của tác giả chính là một nghĩa sĩ Cần vương chống Pháp.
Tóm lại, bản thân, gia đình và quê hương tác giả hiển thị trên các trang viết đủ mọi dạng thái hiện thực, cung bậc tình cảm, có hùng tráng và có cả bi ai.
2. Chiếm phần lớn số trang ở phần thứ hai là đoạn đời tác giả sống, làm việc và viết bên ngành thủy lợi, bởi trước khi làm công tác biên tập xuất bản, anh làm việc với tư cách là kỹ sư bên ngành này trong 14 năm. Những trang viết về thủy lợi của Quang Khải khác với những trang viết khác cùng đề tài-nội dung ở chỗ, anh không chủ yếu nói về công việc cụ thể, mà nói về bản chất sâu xa của công việc ấy, hoặc tâm sự thắm đậm tình người trong công việc ấy. Khi nêu vai trò của thủy lợi, Quang Khải viết: “Nghề nào chẳng có sự hy sinh, dẫu sự hy sinh ấy chẳng thể đem so sánh với máu đổ ngoài mặt trận, xương chất nơi chiến trường...,nhưng nghĩ cho cùng cũng đều vì hạnh phúc của con người mà công tác thủy lợi còn có thiên chức “chôn vùi quá khứ, tái tạo và phục hưng đất nước” (Lê-nin); mà Tổ quốc còn có nghĩa là Đất và Nước. “Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là Đất- Nước (Lời Hồ Chủ tịch)”(tr.120-121). Đến công trường thủy lợi Thoong Gót (Cao Bằng), tác giả trải lòng mình trên những trang văn về chân dung một cán bộ quản lý công trường, vốn là người lính trên mặt trận biên giới năm xưa với biết bao gian khổ, hy sinh cùng đồng đội tiêu diệt quân thù, mở đường biên giới, thì nay, đang vượt qua khó khăn, thiếu thốn để “chuyển quân” vào công trường, lao động khai thông dòng nước cho đồng bào các dân tộc vùng biên giới, nơi đây (tr.82). Viết về “Một quãng đê Hà Nội”, vốn là nhà thơ, tác giả có cái nhìn tinh tế, đậm chất thi ca về ngôi điếm canh đê: “Thì ra có bao nhiêu cái điếm canh đê như thế này đã trụ vững cùng thời gian. Có còn không những cái điếm canh hồi đầu chống Pháp: “Trong điếm nhỏ mươi người trai tráng/Sờ chuôi lựu đạn/Ngồi thổi nùn rơm/Thức vừa rạng sáng” (Thơ Hồng Nguyên), bên cạnh những điếm canh mới xây mái bằng màu vôi trắng toát...”. (tr161). Đúng với tên phần thứ hai của cuốn sách “Những nẻo đường đời”, cùng với những trang viết về thủy lợi, tác giả đề cập đến mọi nẻo của cuộc sống. Về Bùi Viện, Quang Khải đã có một cuốn sách chuyên khảo đầy đặn và một số bài báo về ông; ở phần thứ nhất cuốn sách này, có bài viết về quan hệ bạn bè giữa Bùi Viện và Nguyễn Khuyến. Trong phần này, Quang Khải viết về Bùi Viện, người từ lũy tre làng vượt đại dương – người Việt Nam đầu tiên đến Hoa Kỳ vào thế kỷ thứ XIX; về chuyện làng quê hôm nay đã mất đi vẻ đẹp truyền thống...; đặc biệt, chùm truyện mi-ni: Truyện “Đồng nghiệp” gây bất ngờ về cung cách tìm kiếm việc làm ở thời mở cửa; truyện “Vượt rào” kể về một vụ tình yêu lừa đảo; cùng với những truyện có thật nơi làng quê tác giả mà mang đậm dấu ấn văn chương. Rất đặc trưng về con người và sự việc quê anh,đó là truyện “Người quê ta cứ chuyên cần chân quê” (tr.227).
3. Phần thứ ba là các lời bình của nhà thơ Trần Lê Văn, nhà văn Hoàng Minh Tường và nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hương Giang về ký của Quang Khải. Mỗi người có một góc nhìn, mỗi người một có một phương pháp thẩm bình, song cả ba đều thấy ở Quang khải là một cây bút thể ký với giọng văn đặc biệt - vừa tinh tế, nhuần nhị, vừa hài hước, hóm hỉnh, giàu chất thi ca. Là một nhà thơ viết ký, Quang Khải có khả năng làm điều đó! Nhà thơ Trần Lê Văn viết: “ Quang Khải vốn là cây bút thơ. Vì vậy, “Dòng sông không có đôi bờ” của anh là một tập văn xuôi có lấp lánh những cảm hứng thơ, khi thì trầm lắng suy tư, khi thì đùa vui hóm hỉnh. Trữ tình và trào lộng cứ đan cài nhau cuốn hút người đọc. Có những khúc có thể coi là thơ-văn xuôi như đoạn viết về cô gái thủy lợi với sông Trà Khúc: ...Dưới chênh vênh bờ đá em nằm, từng là thác xoáy, từng là vực sâu thăm thẳm dìm người. Trái đất lại trụi trần như thuở sơ khai, thềm đá cổ thâm nghiêm bỗng ấm mềm hơi thở. Bởi em phút chợp mắt hóa say nồng giấc ngủ sau đêm ca ba nhọc nhằn, áo còn nguyên vệt vữa bê-tông. Ngực thở phập phồng nón lá. Từ đáy sông vầng mặt trời chói lóa cả công trường che giấc ngủ cho em...” (tr.278-279).
*
* *
Chúc mừng nhà thơ Quang Khải về tập ký và truyện "Tìm gì ở phía hoàng hôn". Mong được tiếp nhận những sáng tạo văn chương với chất lượng nghệ thuật ngày càng cao hơn nữa của anh.
Mai Thanh
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét