Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013
PHẢI CHI! Thơ của Vũ Tuấn Anh Vũ Tuấn Anh (Người Lẩm Cẩm): Người đứng thứ nhất từ phải sang Anh còn giữ một miếng trầu Em têm từ thuở đã lâu lắm rồi Muốn ăn cho thắm bờ môi Nhưng mà lại tiếc...nên thôi... để dành! Lá trầu nay chẳng còn xanh Cau khô ...vôi cứng... có thành đỏ tươi ? Gặp nhau em hát "mời xơi" Vẫn nài "cầm lấy cho tôi bằng lòng..." Biết là trầu ấy - "trầu không" Phải chi "trầu có" để lòng... bớt say!!! Bài thơ lấy cảm hứng từ bài dân ca quan họ “Mời trầu” được cấu tạo hai đoạn. Đoạn đầu bộc lộ hoài niệm về miếng trầu nhận từ người bạn hát được nâng niu gìn giữ đến “cau khô, vôi cứng”. Không! Không phải miếng trầu mà là tình yêu vật hóa. Tình yêu ấy dẫu qua năm tháng có đổi thay, vẫn mãi mãi trong anh - như buổi ban đầu gặp em trong đêm quan họ - được gợi lại ở đoạn sau của bài thơ, trong đó, thể hiện qua một câu hát quan họ: Không ăn, “cầm lấy cho tôi bằng lòng”. Hai câu cuối cùng của bài thơ: “Biết là trầu ấy - "trầu không"/Phải chi "trầu có" để lòng... bớt say! thể hiện có tính ngoắt ngoéo một ý tưởng thi ca. “Trầu không”, “trầu có” là lối chơi chữ của nhà thơ. Song, ẩn sâu dưới lối chơi chữ ấy là gì? Ở đây, ý tưởng ẩn dấu của tình yêu là điều có thật, nhưng ít ai lưu ý: Khi tình yêu không thành (không) thì đôi tình nhân sống trong hoài niệm yêu, vì thế mà “say” - cái say của hoài niệm. Ngược lại, nếu tình yêu thành (có), sẽ là “bớt say”, bởi họ đã nắm bắt được nhau và rồi thỏa mãn điều ước muốn của tình yêu. Say trong hoài niệm rõ ràng là đầy ý nghĩa thiêng liêng của tình yêu, tuy nhiên, cũng vì thế mà tình yêu ấy mang theo hệ lụy; vậy nên,"phải chi trầu có" - mong như vậy, để tránh khỏi hệ lụy do tình yêu hoài niệm mang lại? Là nói vậy thôi, nếu là "trầu có", thì lại nuối tiếc "trầu không" để mà nhớ nhung, hoài niệm - ngại chi hệ lụy! Rắc rối của tình yêu là vậy! Lịch sử tình yêu đã có biết bao trường hợp như thế! Ý tưởng này, một lần nữa, bộc lộ hoàn chỉnh hơn nữa trạng thái tình yêu hoài niệm mà Vũ Tuấn Anh muốn thể hiện. Nghe nói, theo lệ, các bạn hát quan họ không được phép cưới nhau (đúng vậy không, Vũ Tuấn Anh?), nên ý tưởng về “không” và “có” xuất phát từ thực tế đó. Tôi đã xem một bộ phim về tình yêu của đôi trai gái hát dân ca để rồi cả đời đeo đẳng trong hoài niệm có nội dung tương tự ý tưởng bài thơ “Phải chi!”. Bộ phim khiến người xem day dứt về một trạng thái tình yêu và cùng thổn thức với nhân vật của bộ phim đầy hoài niệm ấy. Vũ Tuấn Anh với "Rau và cỏ" Khía cạnh khác là yếu tố văn hóa Việt của bài thơ "Phải chi!". Đã có lần tôi giới thiệu bài thơ "Lục bát gửi mình" của Vũ Ngọc Phàn. Ở bài thơ ấy, tôi nói đến yếu tố này. Tương tự, ở bài thơ “Phải chi!”, Vũ Tuấn Anh không nói về thơ lục bát, mà nói về dân ca quan họ; không nói về sự quấn quyện tình yêu, mà nói về tình yêu hoài niệm; không gợi cảnh quan về làng quê Việt, mà nói về ứng xử văn hóa giao tiếp “mời trầu” – “miếng trầu là đầu câu chuyện”... Không hẹn mà gặp, hai nhà thơ họ Vũ cùng chung ý tưởng thi ca trong thơ của họ. Bài thơ lục bát ngắn gọn khá mượt mà, có chất liệu dân ca quan họ, có lối chơi chữ... Tất cả, nhằm biểu đạt hiệu quả ý tưởng cơ bản của bài thơ "Phải chi!". Là một sĩ quan quân đội, Vũ Tuấn Anh còn là một nhà thơ. Anh đã cho ra mắt bạn đọc tập thơ “Thì thầm đường quê” (Nhà xuất bản Văn học, 2011) – tập thơ được nhiều bạn đọc quan tâm và có nhiều bài bình luận-giới thiệu trên blog cũng như trên các diễn đàn bình luận khác về thi ca. Sau tập “Thì thầm đường quê”, Vũ Tuấn Anh có nhiều bài thơ hay. “Phải chi!” là một bài thơ như vậy! Chúc mừng Vũ Tuấn Anh! Mong nhà thơ dạt dào sức sáng tạo thi ca và cho ra mắt bạn đọc nhiều bài thơ hay hơn nữa! Mai Thanh LỤC BÁT GỬI MÌNH 00:22 6 thg 6 2012Công khai67 Lượt xem 13 Vũ Ngọc Phàn Con cò bay lả bay la Chở câu lục bát của ta gửi mình Câu thơ câu nghĩa câu tình Câu tám là mình câu sáu là ta Câu trên câu dưới chung hoà Hai câu ghép lại thành ta với mình Hai câu như bóng với hình Ngắn dài cũng vẫn là mình với ta Câu thơ ngày tháng đi qua Đơn sơ mộc mạc xót xa quê nghèo Bờ tre thao thức trăng treo Lời ru man mác buồn theo đêm dài ... Biết rằng còn có ngày mai Hai câu lục bát ở hoài bên nhau Xin người đừng bẻ ngang câu Bỏ vần lỡ nhịp cho đau lòng mình Câu thơ câu nghĩa câu tình Hồn quê lắng đọng trong mình trong ta Con cò bay lả bay la ... Bài thơ chứa đựng hai ý tưởng cơ bản: Đó là, sự quấn quyện tình yêu của ta với mình như chính hai câu thơ lục bát “anh là câu 6; em là câu 8”: Câu thơ câu nghĩa câu tình/Câu tám là mình câu sáu là ta/Câu trên câu dưới chung hòa/Hai câu ghép lại thành ta với mình. Sự gắn bó của hai câu thơ lục bát chính là cái đẹp quấn quyện của chúng. Thiếu sự gắn bó ấy, thơ lục bát không còn nữa và chúng mình cũng không là của nhau nữa. Thơ lục bát là chính chúng mình vậy! Đó là, cùng với ý tưởng “tình yêu thơ lục bát” như đã nêu trên, văn hóa Việt được bộc lộ khá rõ trong bài thơ: Con cò bay lả bay la (câu mở và cũng là câu kết của bài thơ), quê nghèo, bờ tre, trăng treo, lời ru, hồn quê... “Tình yêu thơ lục bát” đã là văn hóa, lại được ấp ủ trong ý tưởng thứ hai này càng làm cho bài thơ đậm đà chất văn hóa Việt. Về cách thể hiện, bài thơ dùng điệp ngữ để khẳng định ý tưởng như “ta-mình”; “con cò bay lả bay la”; ngôn từ chọn lọc giàu chất thi ca, vần điệu uyển chuyển, mượt mà. Dưới hình thức một bài thơ lục bát nói về thơ lục bát, “Lục bát gửi mình” của Vũ Ngọc Phàn thể hiện đậm đà về tình yêu, về văn hóa Việt. Mai Thanh giới thiệu PHẢI CHI! Thơ của Vũ Tuấn Anh
PHẢI CHI! Thơ của Vũ Tuấn Anh
Vũ Tuấn Anh (Người Lẩm Cẩm):
Người đứng thứ nhất từ phải sang
Anh còn giữ một miếng trầu
Em têm từ thuở đã lâu lắm rồi
Muốn ăn cho thắm bờ môi
Nhưng mà lại tiếc...nên thôi... để dành!
Lá trầu nay chẳng còn xanh
Cau khô ...vôi cứng... có thành đỏ tươi ?
Gặp nhau em hát "mời xơi"
Vẫn nài "cầm lấy cho tôi bằng lòng..."
Biết là trầu ấy - "trầu không"
Phải chi "trầu có" để lòng... bớt say!!!
Bài thơ lấy cảm hứng từ bài dân ca quan họ “Mời trầu” được cấu tạo hai đoạn. Đoạn đầu bộc lộ hoài niệm về miếng trầu nhận từ người bạn hát được nâng niu gìn giữ đến “cau khô, vôi cứng”. Không! Không phải miếng trầu mà là tình yêu vật hóa. Tình yêu ấy dẫu qua năm tháng có đổi thay, vẫn mãi mãi trong anh - như buổi ban đầu gặp em trong đêm quan họ - được gợi lại ở đoạn sau của bài thơ, trong đó, thể hiện qua một câu hát quan họ: Không ăn, “cầm lấy cho tôi bằng lòng”.
Hai câu cuối cùng của bài thơ: “Biết là trầu ấy - "trầu không"/Phải chi "trầu có" để lòng... bớt say! thể hiện có tính ngoắt ngoéo một ý tưởng thi ca. “Trầu không”, “trầu có” là lối chơi chữ của nhà thơ. Song, ẩn sâu dưới lối chơi chữ ấy là gì? Ở đây, ý tưởng ẩn dấu của tình yêu là điều có thật, nhưng ít ai lưu ý: Khi tình yêu không thành (không) thì đôi tình nhân sống trong hoài niệm yêu, vì thế mà “say” - cái say của hoài niệm. Ngược lại, nếu tình yêu thành (có), sẽ là “bớt say”, bởi họ đã nắm bắt được nhau và rồi thỏa mãn điều ước muốn của tình yêu. Say trong hoài niệm rõ ràng là đầy ý nghĩa thiêng liêng của tình yêu, tuy nhiên, cũng vì thế mà tình yêu ấy mang theo hệ lụy; vậy nên,"phải chi trầu có" - mong như vậy, để tránh khỏi hệ lụy do tình yêu hoài niệm mang lại? Là nói vậy thôi, nếu là "trầu có", thì lại nuối tiếc "trầu không" để mà nhớ nhung, hoài niệm - ngại chi hệ lụy! Rắc rối của tình yêu là vậy! Lịch sử tình yêu đã có biết bao trường hợp như thế! Ý tưởng này, một lần nữa, bộc lộ hoàn chỉnh hơn nữa trạng thái tình yêu hoài niệm mà Vũ Tuấn Anh muốn thể hiện. Nghe nói, theo lệ, các bạn hát quan họ không được phép cưới nhau (đúng vậy không, Vũ Tuấn Anh?), nên ý tưởng về “không” và “có” xuất phát từ thực tế đó. Tôi đã xem một bộ phim về tình yêu của đôi trai gái hát dân ca để rồi cả đời đeo đẳng trong hoài niệm có nội dung tương tự ý tưởng bài thơ “Phải chi!”. Bộ phim khiến người xem day dứt về một trạng thái tình yêu và cùng thổn thức với nhân vật của bộ phim đầy hoài niệm ấy.
Vũ Tuấn Anh với "Rau và cỏ"
Khía cạnh khác là yếu tố văn hóa Việt của bài thơ "Phải chi!". Đã có lần tôi giới thiệu bài thơ "Lục bát gửi mình" của Vũ Ngọc Phàn. Ở bài thơ ấy, tôi nói đến yếu tố này. Tương tự, ở bài thơ “Phải chi!”, Vũ Tuấn Anh không nói về thơ lục bát, mà nói về dân ca quan họ; không nói về sự quấn quyện tình yêu, mà nói về tình yêu hoài niệm; không gợi cảnh quan về làng quê Việt, mà nói về ứng xử văn hóa giao tiếp “mời trầu” – “miếng trầu là đầu câu chuyện”... Không hẹn mà gặp, hai nhà thơ họ Vũ cùng chung ý tưởng thi ca trong thơ của họ.
Bài thơ lục bát ngắn gọn khá mượt mà, có chất liệu dân ca quan họ, có lối chơi chữ... Tất cả, nhằm biểu đạt hiệu quả ý tưởng cơ bản của bài thơ "Phải chi!".
Là một sĩ quan quân đội, Vũ Tuấn Anh còn là một nhà thơ. Anh đã cho ra mắt bạn đọc tập thơ “Thì thầm đường quê” (Nhà xuất bản Văn học, 2011) – tập thơ được nhiều bạn đọc quan tâm và có nhiều bài bình luận-giới thiệu trên blog cũng như trên các diễn đàn bình luận khác về thi ca. Sau tập “Thì thầm đường quê”, Vũ Tuấn Anh có nhiều bài thơ hay. “Phải chi!” là một bài thơ như vậy! Chúc mừng Vũ Tuấn Anh! Mong nhà thơ dạt dào sức sáng tạo thi ca và cho ra mắt bạn đọc nhiều bài thơ hay hơn nữa!
Mai Thanh
LỤC BÁT GỬI MÌNH
00:22 6 thg 6 2012Công khai67 Lượt xem 13
Vũ Ngọc Phàn
Con cò bay lả bay la
Chở câu lục bát của ta gửi mình
Câu thơ câu nghĩa câu tình
Câu tám là mình câu sáu là ta
Câu trên câu dưới chung hoà
Hai câu ghép lại thành ta với mình
Hai câu như bóng với hình
Ngắn dài cũng vẫn là mình với ta
Câu thơ ngày tháng đi qua
Đơn sơ mộc mạc xót xa quê nghèo
Bờ tre thao thức trăng treo
Lời ru man mác buồn theo đêm dài ...
Biết rằng còn có ngày mai
Hai câu lục bát ở hoài bên nhau
Xin người đừng bẻ ngang câu
Bỏ vần lỡ nhịp cho đau lòng mình
Câu thơ câu nghĩa câu tình
Hồn quê lắng đọng trong mình trong ta
Con cò bay lả bay la ...
Bài thơ chứa đựng hai ý tưởng cơ bản:
Đó là, sự quấn quyện tình yêu của ta với mình như chính hai câu thơ lục bát “anh là câu 6; em là câu 8”: Câu thơ câu nghĩa câu tình/Câu tám là mình câu sáu là ta/Câu trên câu dưới chung hòa/Hai câu ghép lại thành ta với mình. Sự gắn bó của hai câu thơ lục bát chính là cái đẹp quấn quyện của chúng. Thiếu sự gắn bó ấy, thơ lục bát không còn nữa và chúng mình cũng không là của nhau nữa. Thơ lục bát là chính chúng mình vậy!
Đó là, cùng với ý tưởng “tình yêu thơ lục bát” như đã nêu trên, văn hóa Việt được bộc lộ khá rõ trong bài thơ: Con cò bay lả bay la (câu mở và cũng là câu kết của bài thơ), quê nghèo, bờ tre, trăng treo, lời ru, hồn quê... “Tình yêu thơ lục bát” đã là văn hóa, lại được ấp ủ trong ý tưởng thứ hai này càng làm cho bài thơ đậm đà chất văn hóa Việt.
Về cách thể hiện, bài thơ dùng điệp ngữ để khẳng định ý tưởng như “ta-mình”; “con cò bay lả bay la”; ngôn từ chọn lọc giàu chất thi ca, vần điệu uyển chuyển, mượt mà.
Dưới hình thức một bài thơ lục bát nói về thơ lục bát, “Lục bát gửi mình” của Vũ Ngọc Phàn thể hiện đậm đà về tình yêu, về văn hóa Việt.
Mai Thanh giới thiệu
Vũ Tuấn Anh (Người Lẩm Cẩm):
Người đứng thứ nhất từ phải sang
Anh còn giữ một miếng trầu
Em têm từ thuở đã lâu lắm rồi
Muốn ăn cho thắm bờ môi
Nhưng mà lại tiếc...nên thôi... để dành!
Lá trầu nay chẳng còn xanh
Cau khô ...vôi cứng... có thành đỏ tươi ?
Gặp nhau em hát "mời xơi"
Vẫn nài "cầm lấy cho tôi bằng lòng..."
Biết là trầu ấy - "trầu không"
Phải chi "trầu có" để lòng... bớt say!!!
Bài thơ lấy cảm hứng từ bài dân ca quan họ “Mời trầu” được cấu tạo hai đoạn. Đoạn đầu bộc lộ hoài niệm về miếng trầu nhận từ người bạn hát được nâng niu gìn giữ đến “cau khô, vôi cứng”. Không! Không phải miếng trầu mà là tình yêu vật hóa. Tình yêu ấy dẫu qua năm tháng có đổi thay, vẫn mãi mãi trong anh - như buổi ban đầu gặp em trong đêm quan họ - được gợi lại ở đoạn sau của bài thơ, trong đó, thể hiện qua một câu hát quan họ: Không ăn, “cầm lấy cho tôi bằng lòng”.
Hai câu cuối cùng của bài thơ: “Biết là trầu ấy - "trầu không"/Phải chi "trầu có" để lòng... bớt say! thể hiện có tính ngoắt ngoéo một ý tưởng thi ca. “Trầu không”, “trầu có” là lối chơi chữ của nhà thơ. Song, ẩn sâu dưới lối chơi chữ ấy là gì? Ở đây, ý tưởng ẩn dấu của tình yêu là điều có thật, nhưng ít ai lưu ý: Khi tình yêu không thành (không) thì đôi tình nhân sống trong hoài niệm yêu, vì thế mà “say” - cái say của hoài niệm. Ngược lại, nếu tình yêu thành (có), sẽ là “bớt say”, bởi họ đã nắm bắt được nhau và rồi thỏa mãn điều ước muốn của tình yêu. Say trong hoài niệm rõ ràng là đầy ý nghĩa thiêng liêng của tình yêu, tuy nhiên, cũng vì thế mà tình yêu ấy mang theo hệ lụy; vậy nên,"phải chi trầu có" - mong như vậy, để tránh khỏi hệ lụy do tình yêu hoài niệm mang lại? Là nói vậy thôi, nếu là "trầu có", thì lại nuối tiếc "trầu không" để mà nhớ nhung, hoài niệm - ngại chi hệ lụy! Rắc rối của tình yêu là vậy! Lịch sử tình yêu đã có biết bao trường hợp như thế! Ý tưởng này, một lần nữa, bộc lộ hoàn chỉnh hơn nữa trạng thái tình yêu hoài niệm mà Vũ Tuấn Anh muốn thể hiện. Nghe nói, theo lệ, các bạn hát quan họ không được phép cưới nhau (đúng vậy không, Vũ Tuấn Anh?), nên ý tưởng về “không” và “có” xuất phát từ thực tế đó. Tôi đã xem một bộ phim về tình yêu của đôi trai gái hát dân ca để rồi cả đời đeo đẳng trong hoài niệm có nội dung tương tự ý tưởng bài thơ “Phải chi!”. Bộ phim khiến người xem day dứt về một trạng thái tình yêu và cùng thổn thức với nhân vật của bộ phim đầy hoài niệm ấy.
Vũ Tuấn Anh với "Rau và cỏ"
Khía cạnh khác là yếu tố văn hóa Việt của bài thơ "Phải chi!". Đã có lần tôi giới thiệu bài thơ "Lục bát gửi mình" của Vũ Ngọc Phàn. Ở bài thơ ấy, tôi nói đến yếu tố này. Tương tự, ở bài thơ “Phải chi!”, Vũ Tuấn Anh không nói về thơ lục bát, mà nói về dân ca quan họ; không nói về sự quấn quyện tình yêu, mà nói về tình yêu hoài niệm; không gợi cảnh quan về làng quê Việt, mà nói về ứng xử văn hóa giao tiếp “mời trầu” – “miếng trầu là đầu câu chuyện”... Không hẹn mà gặp, hai nhà thơ họ Vũ cùng chung ý tưởng thi ca trong thơ của họ.
Bài thơ lục bát ngắn gọn khá mượt mà, có chất liệu dân ca quan họ, có lối chơi chữ... Tất cả, nhằm biểu đạt hiệu quả ý tưởng cơ bản của bài thơ "Phải chi!".
Là một sĩ quan quân đội, Vũ Tuấn Anh còn là một nhà thơ. Anh đã cho ra mắt bạn đọc tập thơ “Thì thầm đường quê” (Nhà xuất bản Văn học, 2011) – tập thơ được nhiều bạn đọc quan tâm và có nhiều bài bình luận-giới thiệu trên blog cũng như trên các diễn đàn bình luận khác về thi ca. Sau tập “Thì thầm đường quê”, Vũ Tuấn Anh có nhiều bài thơ hay. “Phải chi!” là một bài thơ như vậy! Chúc mừng Vũ Tuấn Anh! Mong nhà thơ dạt dào sức sáng tạo thi ca và cho ra mắt bạn đọc nhiều bài thơ hay hơn nữa!
Mai Thanh
LỤC BÁT GỬI MÌNH
00:22 6 thg 6 2012Công khai67 Lượt xem 13
Vũ Ngọc Phàn
Con cò bay lả bay la
Chở câu lục bát của ta gửi mình
Câu thơ câu nghĩa câu tình
Câu tám là mình câu sáu là ta
Câu trên câu dưới chung hoà
Hai câu ghép lại thành ta với mình
Hai câu như bóng với hình
Ngắn dài cũng vẫn là mình với ta
Câu thơ ngày tháng đi qua
Đơn sơ mộc mạc xót xa quê nghèo
Bờ tre thao thức trăng treo
Lời ru man mác buồn theo đêm dài ...
Biết rằng còn có ngày mai
Hai câu lục bát ở hoài bên nhau
Xin người đừng bẻ ngang câu
Bỏ vần lỡ nhịp cho đau lòng mình
Câu thơ câu nghĩa câu tình
Hồn quê lắng đọng trong mình trong ta
Con cò bay lả bay la ...
Bài thơ chứa đựng hai ý tưởng cơ bản:
Đó là, sự quấn quyện tình yêu của ta với mình như chính hai câu thơ lục bát “anh là câu 6; em là câu 8”: Câu thơ câu nghĩa câu tình/Câu tám là mình câu sáu là ta/Câu trên câu dưới chung hòa/Hai câu ghép lại thành ta với mình. Sự gắn bó của hai câu thơ lục bát chính là cái đẹp quấn quyện của chúng. Thiếu sự gắn bó ấy, thơ lục bát không còn nữa và chúng mình cũng không là của nhau nữa. Thơ lục bát là chính chúng mình vậy!
Đó là, cùng với ý tưởng “tình yêu thơ lục bát” như đã nêu trên, văn hóa Việt được bộc lộ khá rõ trong bài thơ: Con cò bay lả bay la (câu mở và cũng là câu kết của bài thơ), quê nghèo, bờ tre, trăng treo, lời ru, hồn quê... “Tình yêu thơ lục bát” đã là văn hóa, lại được ấp ủ trong ý tưởng thứ hai này càng làm cho bài thơ đậm đà chất văn hóa Việt.
Về cách thể hiện, bài thơ dùng điệp ngữ để khẳng định ý tưởng như “ta-mình”; “con cò bay lả bay la”; ngôn từ chọn lọc giàu chất thi ca, vần điệu uyển chuyển, mượt mà.
Dưới hình thức một bài thơ lục bát nói về thơ lục bát, “Lục bát gửi mình” của Vũ Ngọc Phàn thể hiện đậm đà về tình yêu, về văn hóa Việt.
Mai Thanh giới thiệu
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét