Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013
BÀI THƠ TÌNH KÍN ĐÁO VÀ ĐỘC ĐÁO Mai Thanh
CUỐI THU
Trần Huyền Nhung
Thứ sáu ngày 12 tháng 10 năm 2012 6:37 PM
(Tặng người ham vui)
Cuối Thu rồi Anh có biết chăng?
Ngọn gió heo may ngược chiều phương ấy
Thổi em về phía Anh....
Vén tấm rèm trong khoảnh khắc mong manh
Chỉ đủ sáng hôn mùa Thu vội vã
Thu trung du gối mùa nghiêng ngả
Xao xác hồn, mơ neo lại tình thu.
Cuối Thu rồi em nghe tiếng thu rơi
Chầm chậm nhìn thời gian như trở lại
Ngược vòng ... quay mãi.
Em ước ao....
Cuối Thu rồi nắng, gió nhẹ hanh hao
Thổi em về phía ấy....
Em,
Anh.
Hà Nội, trưa 12/ 10
TRẦN HUYỀN NHUNG
Bài thơ tình “Cuối thu” trên đây của Trần Huyền Nhung là một bài thơ như vậy! Thì hãy “bóc” ra sự kín đáo đó xem sao: Bài thơ đề cập đến thời gian cuối thu và không gian là miền trung du xứ Bắc, không nơi nào khác đó là tỉnh Vĩnh Phú cũ gồm Phú Thọ và Vĩnh Phúc ngày nay. Trong thời gian và không gian ấy, ẩn chứa trung tâm ý tưởng của bài thơ, đó là:
Cuối Thu rồi Anh có biết chăng?
Ngọn gió heo may ngược chiều phương ấy
Thổi em về phía Anh....
Diễn nôm ra, đó là: Cuối thu này em đến miền trung du với anh – đến với anh thật nhẹ nhàng và kín đáo;
em đến với anh nhờ cơn gió, như cơn gió heo may vậy đó!
Khổ thơ thứ hai tiếp theo nói đến tình yêu gặp gỡ:
Vén tấm rèm trong khoảnh khắc mong manh
Chỉ đủ sáng hôn mùa Thu vội vã
Thu trung du gối mùa nghiêng ngả
Xao xác hồn, mơ neo lại tình thu.
Cuối Thu rồi em nghe tiếng thu rơi
Tình yêu cũng thật kín đáo: Tấm rèm thực tế hay tấm rèm tình cảm cũng vậy cả thôi – nó chỉ vén lên trong khoảnh khắc mong manh và đủ sáng và vội vả cho nụ hôn đầy kỷ niệm của mùa thu trung du.
Có lẽ hai câu thơ “Thu trung du gối mùa nghiêng ngả/Xao xác hồn, mơ neo lại tình thu” đẹp nhất trong bài thơ tình đẹp “Cuối thu”. Tình yêu kín đáo vẫn không kém phần nồng nhiệt trong không gian trung du và trong thời gian mùa thu đầy kỷ niệm với với những thi từ “nghiêng ngả”, “xao xác” và “neo”...
Nếu như hai khổ thơ đầu là tìm đến và gặp gỡ tình yêu, thì khổ thứ ba là luyến nhớ tình yêu mà mùa thu làm điểm tựa và em ước ao... (với ba chấm) nhiều điều tốt đẹp tiếp nữa đến với tình yêu của chúng mình. Bài thơ kết thúc ở khổ thứ tư cuối cùng:
Cuối Thu rồi nắng, gió nhẹ hanh hao
Thổi em về phía ấy....
Em,
Anh.
Không thể khác được, diễn nôm ra, đó là: Lần này thì gió thu không phải đưa em đến gặp anh, mà đưa em đến hẳn với anh được kết thúc với hai thi từ ngọt ngào và quấn quyện biết bao: Em, Anh.
Về nghệ thuật, để bảo đảm cho cách thể hiện ý tưởng tình yêu kín đáo, hình tượng cuối thu và miền đất trung du được nhà thơ sử dụng từ đầu đến cuối. Các hình tượng ấy khắc sâu vào cảm nhận người đọc, khiến người đọc không thể quên bài thơ tình này.
Về vần-điệu, bài thơ được thể hiện theo từng khổ như dạng thơ có vần, nhưng thực chất thuộc thể thơ tự do, mà thơ tự do thì không vần, nhưng có điệu và thường là có vần hạn chế. Với cách đó, thơ vừa thoát ra sự gò bó của tứ, vừa bảo đảm được đặc trưng của thơ là không có vần nhưng phải có điệu. “Cuối thu” đã thể hiện một cách sáng tạo yêu cầu đó.
Thêm nữa, lối cắt dòng của bài thơ, như ở hai khổ cuối – nhất là ở khổ cuối cùng, cũng khá độc đáo!
Chúc mừng nhà thơ nữ Trần Huyền Nhung với “Cuối thu” và mong được đọc nhiều bài thơ hay hơn nữa của chị!
Hà Nội, tháng 10-2012
M.T
BÍCH HỢP – CÂY BÚT ĐA NĂNG VÀ SẮC SẢO MAI THANH
Tôi biết Bích Hợp (trên mạng Yahoo 360pluss có tên là Nữ hoàng) từ một bài viết trên entry của chị - bài viết tỏ thái độ không đồng tình với bài thơ được trao giải nhất của Quế Mai “Bài thơ “Hà Nội” có nên trao giải nhất?”, trong đó, có một câu: “Quan điểm của tôi, đã là thơ thì phải có vần điệu, nếu không nhẹ nhàng sâu lắng thì cũng đừng đứt đoạn, lủng củng. Sâu sắc thì được chứ khó hiểu thì không nên. Nếu thấy cần diễn đạt theo lối tự do thì chuyển hẳn sang văn xuôi cho dễ đọc”. Có thể ý kiến của Bích Hợp còn có tranh luận, nhưng rõ ràng, đó là một ý kiến thẳng thắn! Và, trong một lời bình, tôi đã tỏ thái độ đồng tình với Bích Hợp về quan điểm vần điệu trong thơ – thơ không có vần, thì phải có điệu. Đúng vậy, không phải ngẫu nhiên mà người ta còn gọi thơ là thi ca! Chữ “ca” hàm ý vần hoặc điệu của thơ. Ở một bài tiểu luận, tôi nói rằng: “Ưu thế của nhạc là có giai âm làm rung động lòng người. Vần và điệu trong thơ là chung hưởng chút ưu thế ấy của nhạc. Dại gì mà các nhà thơ tự tước bỏ ưu thế ấy đi!”. Nói thêm vài lời như vậy để khẳng định quan điểm đúng đắn trên đây của Nữ hoàng và khẳng định sự đồng tình của tôi với quan điểm ấy!
Dĩ nhiên, tiếp tục theo dõi những bài viết thuộc dạng này của Bích Hợp, tôi gặp một loạt bài viết mang tính phê bình khá toàn diện: Không chỉ về nội dung mà cả về hình thức thể hiện văn chương; không chỉ về văn học mà cả về nghệ thuật nói chung, không chỉ về ý tưởng mà cả về thái độ ứng xử văn hóa trong nghệ thuật...Trở lại bài thơ đạt giải nhất nói trên,Bích Hợp rất có lý khi không đồng tình với tác giả bởi cô này nói “Tôi sinh ra Hà Nội”: Thật là chướng tai, Hà Nội nếu kể từ khi có tên Thăng Long đã tròn 1000 năm, làm sao lại được sinh ra từ một cô gái chưa tròn tuổi 30 (mà cô này đâu phải là người Hà Nội). Xin ai đó đừng cãi “đó là thơ mà!”. Tôi nói thay Nữ hoàng: “Đừng ỷ là thơ để muốn nói gì thì nói - nói trái với đời, bởi thơ cũng là đời cơ mà!”. Bích Hợp không vừa lòng với nội dung và hình thức trình diễn của vở kịch “Cầu vòng bảy sắc” cũng như thái độ ít văn hóa của một nhạc sĩ trong ban giám khảo cuộc thi “Sao Mai điểm hẹn”. Rất công bằng, “dở thì chê – hay thì khen”, nhà nữ phê bình ngợi khen bài thơ “Học quên để nhớ” của Đặng Vương Hưng – một bài thơ lục bát giàu ý tưởng triết luận và mượt mà hình thức thể hiện; đồng cảm với bài thơ “Bài thơ gửi chắt của con trai” của Trần Mạnh Hảo...
Về mảng truyện ngắn, có thể coi đây là mảng nội dung đa dạng trong hệ thống văn chương đa dạng của Bích Hợp. Truyện ngắn Bích Hợp có khi là phê phán một thói hư của người đời như anh chàng nhà báo mộng mơ ngoại tình bị bại lộ; có khi đầy vẻ hài hước và thân ái, nhưng cũng là cách nhắc nhở nhẹ nhàng, cảnh báo xa xôi về giữ gìn hạnh phúc gia đình, như “Ghen online” đang được đăng – bình trên entry hiên tại... Truyện ngắn “18-4” là một truyện hay trong nhiều truyện hay của Nữ hoàng. Truyện kể về người chồng tàn tật, không muốn để vợ phải khổ vì mình, nên có ý định ly hôn vợ để lấy một cô gái tàn tật như mình, trong khi người vợ mạnh khỏe, nồng nàn và được không ít người đàn ông “quan tâm” kể cả những chàng trai khỏe đẹp. Nhưng, người vợ không chấp nhận ly hôn và đã rất đau khổ, bộc lộ tình yêu tha thiết của mình với chồng. Nhưng, người chồng thì khăng khăng ly hôn với lý do là để vợ được lựa chọ người chồng khác lành lặn, như vậy cô ta sẽ hạnh phúc hơn. Câu chuyện dừng lại đó như là một kết cấu mở, để người đọc suy ngẫm. Trên thực tế, vào bình bài này, nhiều suy ngẫm khác nhau: Chẳng hạn, có đúng là anh chồng vì hạnh phúc của vợ mà có ý định ly hôn vợ, hay anh ta mê cô gái kia, dù là tàn tật, nhưng cô ta trẻ đẹp hơn vợ mình?; người vợ không muốn ly hôn chồng bởi vì yêu chồng thật sự, hay chỉ vì nghĩa phu thê, thậm chí là sự thương hại, ban phát tình yêu cho người chồng tàn tật?; và rồi, độc giả mỗi người có riêng một đoán định về kết cục của cuộc hôn nhân của đôi vợ chồng ấy sẽ ra sao? Chính cái kết cấu mở ấy là một nét nghệ thuật sáng giá, tạo không khí đối thoại giữa độc giả với tác phẩm; giữa độc giả với tác giả - cũng tức là tính “dân chủ văn chương” được mở rộng của truyện ngắn “18-4”. Song, thật sự, ý tưởng sâu xa của tác phẩm mà nhà văn chuyển tải là tính nhân văn, là tinh thần nhân đạo đối với người tàn tật về khía cạnh tình yêu-hôn nhân của họ - tinh thần ấy cũng đã được Bích Hợp thể hiện trong tản văn “Cơ hội để có tình yêu-tình dục của phụ nữ khuyết tật”.
Bích Hợp cũng là một cây bút phóng sự có hạng. Với “Ký sự vi hành”, bạn đọc cùng Nữ hoàng tiếp cận sâu hơn với thực trạng giao thông trên đường phố Hà Nội (mà chính nội dung này đã gợi ý cho tôi viết bài “Đạo đức tham gia giao thông”) cùng với muôn mặt đời thường của Hà Nội, kể cả tình trạng xuống cấp văn hóa qua phần viết “Kéo co văn hóa” trong bài ký sự nhiều phần này. “Bình đẳng giới” và nhiều bài thuộc dạng này có thể coi là những bài phóng sự chính luận về vai trò của phụ nữ và quyền bình đẳng nam nữ.
Mảng chuyện vui là nội dung văn chương mà Bích Hợp thường dùng để nêu lên vai trò quan trọng của phụ nữ, phê phán nhẹ nàng hành vi bất bình đẳng trong hôn nhân-gia đình. “Thư gửi vợ trước khi sống chung” là một chuyện vui lên án ông chồng lười biếng; “Chát với Táo quân” nói về nỗi vất vả của chị em không chỉ trong những ngày tết mà cả mọi ngày trong năm...
Sẽ là thiếu sót nếu không nói văn của Bích hợp còn là những bài viết có ý nghĩa tâm lý-giáo dục rất lớn: “Hãy cho em được vẽ” kêu gọi tấm lòng ưu ái đối với trẻ thơ; “Bài giảng nhập môn” yêu cầu tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp của giáo dục đối với học sinh phổ thông cấp dưới; “Văn hóa giận” gợi mở một cách sống có văn hóa của những cặp vợ chồng khi có những bất đồng...
*
* *
Như đã trình bày trên đây về văn chương của Bích Hợp – bao gồm phê bình văn học-nghệ thuật, truyện ngắn, phóng sự, chuyện vui, bài viết về tâm lý-giáo dục – có thể coi đây là cây bút đa năng và sắc sảo. Mặt khác, sức viết của Bích Hợp rất khỏe – tuy tốc độ đăng bài của chị chưa nhanh lắm so với một số blogger, nhưng mỗi bài viết của Bích Hợp nói chung là rất dài với ý tưởng chung cũng như nội dung chi tiết được chọn lọc khá kỹ càng và minh triết. Có nhiều bài đăng qua năm, sáu kỳ trên blog mà vẫn có sức hấp dẫn độc giả từ đầu đến cuối...
Xin mời độc giả đọc lại các entry trên blog của Bích Hợp để có thể hiểu kỹ hơn nữ nhà văn đa dạng và sắc sảo này.
Chúc văn chương Bích Hợp đa năng hơn nữa, sắc sảo hơn nữa!
Hà Nội, tháng 9-2012
M.T
VỀ TẬP THƠ “TIẾNG THỜI GIAN” CỦA VŨ NGỌC PHÀN (NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC – 2013) MAI THANH
Tiếp theo tập thơ “Khúc tự tình”, “Tiếng thời gian” là tập thơ thứ hai của Vũ Ngọc Phàn. Có thể nói, “Tiếng thời gian” là một bước tiến về chất lượng nghệ thuật so với tập thơ trước của anh.
Có thể nhìn nhận một tập thơ nào đó theo nhiều cách khác nhau. Với “Tiếng thời gian”, tôi đề cập đôi điều về cảm xúc cơ bản và hình thức cơ bản thể hiện của tập thơ.
1. Khác với nhiều tập thơ khác, “Tiếng thời gian” chứa đựng cảm xúc khá rõ nét về nỗi niềm tâm tư và triết luận xã hội.
Về nỗi niềm, rõ nhất là tâm trạng buồn. Thì chính nhà thơ đã thật lòng nói ra điều đó:
Tôi đành xếp lại mộng mơ
Để thơ tôi cũng vu vơ cùng buồn
(Buồn)
Nỗi niềm trong thơ Vũ Ngọc Phàn trải ra nhiều khía cạnh, chiều dạng vẻ khác nhau, có khi vì buồn mà đi lang thang – không phải lang thang thông thường, mà “lang thang trong đời” (Lang thang). Đi lang thang đến mỏi mệt, để rồi ngủ bên thềm nhà nào đó trong mưa đêm: “Chỉ còn bóng tối đan dầy/Và mưa ướt rũ lá cây bên thềm” (Giấc ngủ bên thềm). Tự biết đi lang thang là không hay, dễ thành tha nhân, nhưng may mắn là không như vậy:
Lang thang trời đất gần xa
Lang thang giữa những rừng già núi non
Lang thang giữa những vuông tròn
Lang thang... Ngoái lại ta còn là ta!
(May mắn)
Bởi nỗi niềm, nên thơ Vũ Ngọc Phàn thường nói đến mưa, vì mưa gieo nỗi buồn day dứt; nói đến chiếc lá khô vì lá cạn kiệt màu xanh; nói đến đá vì đá cô đơn, bất lực; nói đến hoàng hôn, vì hoàng hôn thể hiện nỗi buồn ngày tàn; nói đến giấc mơ, vì mơ giúp trốn nỗi buồn , v. v Cũng có cả nỗi niềm trong sự bất ổn của tình yêu – một trạng thái khá phổ biến trong tình yêu đông tây - kim cổ. Nhà thơ mượn chuyện tình yêu qua mạng để bộc lộ tâm tư về tình yêu thiếu bền vững: “Niềm tin còn không mà sao buồn vô cớ/Tình đang cận kề hay tình đã đi xa” (Tình qua mạng viễn thông”); hoặc: “ Tình rơi dầu dãi bến bờ/Hồn rơi chới với câu thơ giữa dòng” ( Rơi).
Có lẽ, những bất ổn của con người, của cuộc đời là nỗi niềm lớn nhất được bộc lộ trong tập thơ. Trước hết, đó là cuộc đời lặng thầm, lầm lũi của con người. Văn chương đã nói nhiều đến sự lặng thầm của con người – con người như cái bóng. Vũ Ngọc Phàn mượn đá để nói sự lặng thầm ấy:
Chiều nghiêng bóng đá nhạt nhòa
Phong phong thủy thủ ... Đá là đá thôi
Trời sinh kiếp đá thế rồi
Lặng im...Im lặng...Một đời...Lặng im...
(Đá phong thủy)
“Đá lặng im”, “Đá vu vơ”, “Đá đổ mồ hôi” là lời đá – thực ra là lời người - tự kể về những trạng thái của cuộc đời mình (Lời của đá). Vũ Ngọc Phàn có đến ba bài nói đến hoặc nói liên quan đến hồn ma. Phải chăng, phải viện đến hồn ma mới nói đến tận cùng bất ổn của con người? Nhà thơ mượn lời một con ma để nói thân phận mình vốn là con người như là những thứ công cụ không hơn không kém. Nhưng khi con người chết đi, thì được thờ cúng, tôn vinh như là người bất tử:
Khi còn sống
Là người
Ta đâu được làm người
...
Khi ta chết thành ma
Trong góc tối nhất của bóng tối
Ha, ha
Ta được ngợi ca
Là con người bất tử!
(Bất tử)
Con người khi sống có cuộc đời khác nhau - “ma nào một thời tủi nhục/ma nào một thời vàng son”, nhưng khi chết đều thành ma cả, rồi con người ngẫm lại cuộc đời mình nơi cõi thế: “Những hồn ma xõa đầu ngẫm lại/Vết đời mờ tỏ dương gian” (Những hồn ma).
Cũng nói về hồn ma là bài thơ gồm ba khổ, với khổ thơ cuối cùng: “Hồn còn lưu luyến dân gian/Câu thơ hóa tiếng khóc than não nề/Trăm năm liền cõi đi về/Ước mong kiếp trước, lời thề kiếp sau” (Chiều trong nghĩa trang). Nhà thơ chia sẻ với người đã chết về kiếp luân hồi, về những gì đã qua và những gì sẽ đến.
Nỗi niềm sâu nặng về con người là biểu hiện cảm xúc đậm nét của nhà thơ và chắc chắn sẽ gây xúc động không nhỏ đối với người đọc.
Cảm xúc của Vũ Ngọc Phàn theo hướng bình luận xã hội và triết luận nhân sinh cũng được bộc lộ đáng kể trong “Tiếng thời gian”. Trước hết, anh dựa trên các hiện tượng xã hội và tự nhiên để bộc lộ cảm xúc theo hướng ấy của mình. Ý niệm về mặt “bất ổn” của cơ chề thị trường được nhà thơ thể hiện dưới hình thức thi ca: “ Người thắng nín khóc/người thua nhịn cười” – dù thắng hay thua đều chẳng ai vui và tình trạng “cả làng buôn trống buôn chiêng/Tháng Tư ngày Tám, tháng Giêng ngày Rằm – những gì thiêng liêng của làng quê cũng đều trở thành vật buôn bán! (Chợ làng).
Từ một câu chuyện cảm kể mang tính tượng trưng, nhà thơ nêu ra tình trạng bỏ rơi truyền thống của không ít người trong lớp trẻ hiện nay. Truyền thống do ông cha tạo nên dường như bị họ xóa bỏ:
Nhà cửa ngổn ngang bãi rác
Ông lắc đầu, cha lắc đầu
Buồn tiếc công lao vun đắp
Ai ngờ chúng thế này đâu!
(Chuyện nhà)
Nhà thơ xem xét lịch sử trong mối quan hệ giữa kẻ cấp trên và người dưới cấp. Người dưới cấp chịu mọi khổ đau và chính là người tạo nên lịch sử, quả như Bertolt Brecht (1898 – 1956) là nhà văn-kịch gia lớn người Đức đã viết bài thơ “Những câu hỏi của một bạn đọc công nhân” (“Fragen eines lesenden Arbeiter”) bộc lộ một tư tưởng lớn: Không phải là những người đứng đầu, mà chính là quần chúng lao động làm nên lịch sử thế giới. Vũ Ngọc Phàn viết: “Vua dựng ngai vàng trên chiến công tướng lĩnh...”. Lịch sử được tạo nên bởi người đã chết và người đang sống: “Thời gian ôm ghì sông núi/Những bóng người/Những bóng ma/Vần xoay thành lịch sử” (Theo dòng lịch sử).
Mượn kiến thức của khoa học tự nhiên và hiện tượng thiên nhiên, nhà thơ nói về những bí ẩn của con người nói chung, đặc biệt, về cõi ý thức-tâm hồn con người nói riêng. “Nhiệt con tim không theo định luật Cac-nô/Dòng chảy Bec-nu-li không giống dòng nước mắt...Khoảng cách giữa các vì sao/Ngắn hơn khoảng cách hai nhà cùng phố/Sự dữ dội điên cuồng của cơn giông tố/Dịu êm hơn những mối hận thù” (Tri thức).
Cũng theo cách của bài thơ “Tri thức”, sau khi nêu bật khả năng kỳ vĩ của con người, nhà thơ đặt câu hỏi: “Liệu con người có thể/Xây cho riêng mình/Góc nhỏ bình yên/Hạnh phúc tròn đầy?” (Sức mạnh).
Lối cảm xúc thơ được mượn từ khoa học tự nhiên và hiện tượng thiên nhiên dường như là ít gặp đối với các nhà thơ. Nhưng Vũ Ngọc Phàn đã khá thành công với lối cảm xúc đó, bởi anh có một tâm hồn nhạy cảm thi ca và là một nhà khoa học tự nhiên.
2. Không thể không nói về hình thức thể hiện cơ bản của tập thơ “Tiếng thời gian”. Tôi tạm chia hình thức ấy thành hai cách khác nhau: Cách trực cảm (không hiểu khái niệm này thuộc lý luận về quá trình nhận thức) và cách gián cảm. Trực cảm là cách mà hầu hết các nhà thơ thường làm để tạo ra tác phẩm thi ca. Gián cảm thường gặp ở một số nhà thơ cách tân-hiện đại. Tôi cũng tạm gọi có hai kiểu “thức” và “cảm” để bạn đọc tiếp nhận mỗi dạng thơ ấy: Với cách trực cảm, bạn đọc tiếp cận bài thơ bằng kiểu “thức”; với cách gián cảm, bạn đọc tiếp nhận bài thơ bằng kiểu “cảm”. Ở tập thơ “Tiếng thời gian”, chiếm phần lớn là những bài thơ trực cảm; còn lại là một số bài thơ kiểu “gián cảm” và như vậy, các bài thơ này đòi hỏi bạn đọc tiếp cận theo kiểu “cảm”. Tức là đọc xong bài thơ, người đọc không thể hiểu được một cách rành rọt bài thơ nói gì, mà chỉ cảm thấy được bài thơ ấy nói gì mà thôi! Xin nêu một số bài thơ trong tập “Tiếng thời gian”để minh chứng cho điều đó. Người đọc chỉ có thể “cảm” được bài “Đêm thiêng liêng” như là một trạng thái tình yêu dứt day-đau đớn ; ở “Đêm không trăng” là tình trạng hỗn độn, không lối thoát của cuộc đời; ở “Tiếng thời gian” – bài thơ được lấy tên đặt cho cả tập – là thời gian như là biểu hiện của quá khứ, hiện tại và tương lai với những trạng thái động sôi hay tĩnh lặng, thao thức và ước mơ của con người; và nhiều bài khác nữa! Cần nói thêm rằng, vì là “cảm” nên có sự “lệch pha” trong tiếp nhận của độc giả, nghĩa là độc giả có sự tiếp nhận khác nhau, có khi trái ngược nhau. Điều đó là bình thường, thậm chí còn là điều thú vị của cảm nhận văn chương theo cách của tác phẩm mở!
Về hình thức nghệ thuật cụ thể của tập thơ, có thể kể đến lối điệp từ ở nhiều bài thơ, khiến ý tưởng tác phẩm được được tô đậm và khẳng định mạnh mẽ. Hầu hết các bài thơ với khổ thơ hoặc những câu thơ cuối cùng đóng vai trò khái quát, nâng lên ý tưởng , nhiều trường hợp gây bất ngờ đối với người đọc. Thể thơ tự do là chủ yếu, một số bài thơ thuộc thể lục bát.
Nếu muốn nhắn gửi tác giả điều gì cần lưu ý, thì đó là, khi tập thơ được tái bản, cần thêm một số bài có nội dung trữ tình êm ả, thiết tha hơn, như các bài “Đừng nổi giận sông ơi!”, “Nụ cười”, “Trả nợ cho người”, “Bên mộ Hàn Mặc Tử”... Như vậy, giúp bạn đọc giảm bớt cảm giác nặng nề khi đọc tập thơ đầy nỗi niềm và triết luận. Thêm nữa, đối với những bài thơ chứa đựng kiến thức về khoa học tự nhiên, cần được phổ thông hóa và thi ca hóa những kiến thức ấy; hoặc có chú thích ở cuối trang để người đọc có thể tiếp nhận bài thơ một cách tốt hơn.
Cảm ơn Vũ Ngọc Phàn về lời mời tôi viết giới thiệu tập thơ này; chúc mừng nhà thơ với sự ra đời của tập thơ “Tiếng thời gian” và mong đợi những tập thơ tiếp theo của anh với chất lượng nghệ thuật cao hơn nữa!
Hà Nội, tháng 1-2013
M.T
Trả lời
Chuyển tiếp
CHÙM THƠ VỀ PHẬT THIỀN
(Gửi những tâm hồn hướng về Cửa Phật)
1.THANH THẢN
Bà hàng xóm nhà tôi
Xách một túi đầy lỉnh kỉnh:
Có hai thứ tôi tò mò xem kỹ:
Sổ bệnh án và hương hoa đi chùa
Để vào bệnh viện chữa chân đau
Để lên chùa cầu thanh thản:
Thanh thản trái tim
Thanh thản tấm lòng
Thanh thản cuộc đời
Và thanh thản cả đôi chân
Phải chăng đau khổ cõi Trần
Tìm nơi cõi Phật bớt phần khổ đau?
2. TRƯỚC PHẬT ĐÀI
Hội tụ về đây mọi vẻ cuộc đời
Trên nét mặt ngàn ngàn Phật tử
Người ẩn ức lo âu
Kẻ rộn ràng hớn hở
Như cuộc đời gió bụi
Như cuộc đời vàng son:
Đều khuôn mặt đăm đăm
Ngắm nhìn Phật Tổ
Miệng lẩm bẩm: "Con nam mô Phật..."
Ai đọc được những điều bí mật
Thẳm sâu trong mỗi cuộc đời:
Thiện - ác, đầy vơi!
Cuồng quay thiên biến...
Trước Phật đài đều một lời khấn niệm:
Nam mô...
Ta -bà cùng cõi vi-vô
Sống sao cho trọn đường tu cuộc đời?
3. THOÁT THÂN
Theo em vào cửa Phật thiền
Nghe câu tụng niệm êm đềm: "Nam mô..."
Thả hồn vào cõi hờ ơ
Câu thơ ngày ấy vẫn chờ đợi ai
Chùa khuya heo hắt trang đài
Sắc-Không - thôi đã vào tay ai cầm
Thoát thân ra khỏi kiếp trần
Xa anh, em có tần ngần nỗi chi?
Đã rằng hai chữ từ-bi
Tình xưa còn lại chút gì nữa không?
NHỮNG BÀI THƠ HAY VỀ HÀ NỘI QUA 1000 NĂM
Cuốn sách với tựa đề "Tuyển chọn những bài thơ hay về Thăng - Long Hà Nội (10 thế kỷ)" gồm những bài ca dao, và 195 bài thơ của 120 tác giả viết về Hà Nội trong 10 thế kỷ qua, gồm ba phần: I. Những câu ca dao hay về Thăng Long - Hà Nội; II. Những bài thơ hay về Thăng Long - Hà Nội giai đoạn cổ-trung-cận đại; III.Thơ hiện đại từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Cấu trúc của cuốn sách: Ở mỗi phần, được trình bày trình tự theo thời gian các tác giả, kèm theo các bài thơ chọn lọc. Dưới đây, chỉ nêu một số tác giả kèm theo những câu thơ, bài thơ được chọn.
Phần I. Những câu ca dao hay về Thăng Long - Hà Nội
Đó là những câu ca dao ngợi ca những địa danh nổi tiếng của Thăng Long - Hà Nội: Biết nhà em ở đâu đây/Hỡi trăng Tô Lịch, hỡi mây Tây Hồ?; Thăng Long - Hà Nội đô thành/Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ; Gió đưa cành trúc la đà/Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương/Mịt mù khói tỏa ngàn sương/Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ. Bài ca dao "Hà Nội ba mươi sáu phố phường": Ba mươi sáu mặt phố phường/Hàng Giấy, Hàng Bạc, Hàng Ngang, Hàng Đào/Người đài các, kẻ thanh tao/Qua Hàng Thợ tiện lại vào Hàng Gai/Hàng Thêu, Hàng Trống, Hàng Hài/Hàng Khay trở gót ra chơi Tràng Tiền...(trích). Đó là địa danh gắn với nghề nghiệp và phẩm vật Hà Nội: Hoa đào đẹp nhất Nhật Tân/Yêu hoa, hoa nở đầy sân lụa đào; Quê ta đẹp nhất Tây Hồ/Tơ vàng nền mượt đầy bồ Tứ Liên; Giếng Ngọc Hà vừa trong, vừa mát/Vườn Ngọc Hà thơm ngát gần xa; Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm/Cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây...
Phần II. Những bài thơ hay về Thăng Long - Hà Nội giai đoạn cổ-trung-cận đại
Mở đầu phần này là nhà quân sự-nhà thơ Trần Quang Khải (1241-1294) với bài thơ "Phò giá về kinh": Chương Dương cướp giáo giặc/Hàm tử bắt quan thù/Thái Bình nên gắng sức/Non nước ấy ngàn thu.
Nguyễn Huy Lượng (?-1808) có bài thơ "Hồ Tây" đọc xuôi, đọc ngược đều có nghĩa: So đâu dễ ấy giá Hồ Tây/Đủ nước non tiên chốn chốn vầy/To nhỏ nhịp tâu cầm ấy sóng/Thấp cao tầng rợp tán là cây/Châu in vẻ thắm hoa lồng nguyệt/Ngọc đúc màu xanh nước lẫn mây/Đồ vẻ khéo thiêng khôn bởi trước/Hồ Tây cảnh lạ thực vơi đầy.
Hồ Xuân Hương (?-?) với bài "Chùa Quán Sứ": Quán Sứ sao mà khách vắng teo/Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo/Chày kình tiểu để suông không đấm/Tràng hạt sãi lần đếm lại đeo/Sáng banh không kẻ khua tang mít/Trưa trật nào ai móc kẽ rêu/Cha kiếp đường tu sao lắt léo/Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo.
Bà Huyện Thanh Quan (?-?) với "Thăng Long thành hoài cổ": Tạo hóa gây chi cuộc hý trường/Đến nay thấm thoát mấy tinh sương/Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương/Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt/Nước còn cau mặt với tang thương/Ngàn năm gương cũ soi kim cổ/Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
III.Thơ hiện đại từ đầu thế kỷ 20 đến nay
Huỳnh Văn Nghệ (1914 -1977) có bài thơ "Nhớ Bác", trong đó, có bốn câu mở đầu được nhiều người biết đến: Ai về xứ Bắc ta theo với/Thăm lại non sông giống Lạc Hồng/Từ thuở mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long...(trích).
Tố Hữu (1920-2002) có "Tiếng chổi tre", "Chợ Đồng Xuân" và "Trăng". "Trăng" chỉ vẻn vẹn bốn câu lục bát: Đêm qua trăng sáng Cổ Ngư/Trăng đầy mặt nước trăng như mặt người/Trăng tươi mặt ngọc trên trời/Ngẩn ngơ trăng ngó mặt người như trăng.
Phan Vũ (1926-?) với bài thơ "Em ơi! Hà Nội phố" rất nỗi niềm, được phổ nhạc : Em ơi, Hà Nội phố/Ta còn em cây bằng lăng mồ côi/Mùa đông/Ta còn em nóc phố mồ côi/Mùa đông/Ta còn em mảnh trăng mồ côi/Mùa đông/Ta còn em những bức tranh/Ghi một nỗi buồn/Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố/Bơ vơ không nhớ nổi một con đường...trích).
Lê Đình Cánh (sinh 1941) có "Mẹ ra Ha Nội": Mẹ ra Hà Nội đón con/Vừa trên tàu xuống chân còn run run/Áo nâu còn thẫm mưa phùn/Còn hoai vị cỏ sục bùn lúa non/Sang đường tay níu áo con/Ngã tư hối hả xe bon người nhiều/Khoác vai mẹ chiếc đẫy nghèo/Năm xưa thắt lại bao điều đắng cay... (trích).
Phan Thị Thanh Nhàn (sinh 1945) với Hương thầm: Cửa sổ hai nhà cuối phố/Không hiểu vì sao không khép bao giờ/Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp/Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa...Đôi bạn trẻ ấp ôm mối tình thầm kín; thế rồi, anh lên đường ra trận: Họ chia tay vẫn chẳng nói điều gì/Mà hương thầm thơm mãi bước người đi... (trích).
Trần Đăng Khoa (sinh 1958) có bài "Đất trời sáng lắm hôm nay" thể hiện tình cảm đối với Bác Hồ khi nhà thơ còn là một cậu bé lần đầu tiên về Hà Nội cũng đúng dịp Bác đang ốm nặng (dĩ nhiên là Khoa không biết được điều này): Bác ơi! Cháu đến đây rồi/Ba Đình phượng đỏ một trời tiếng ve/Cháu nghe Hà Nội vào hè/Hồ Gươm nước biếc bốn bề hoa tươi/Sang năm Bác tám mươi rồi/Bác ơi! Bác thấy trong người khỏe không?/Hằng ngày chúng cháu rất mong/Bác vui, Bác khỏe là lòng cháu vui...(trích).
Đoàn Minh Hằng (nhà thơ trẻ) có bài "Hà Nội trong tôi": Hà Nội trong tôi là những phố ngắn thôi/Mà lòng người thì sao dài quá đỗi/Là đóa hồng tươi như là trẩy hội/Những gánh hàng hoa chen chúc bên đường...(trích).
Như vậy, không kể phần I. Những câu ca dao hay về Thăng Long - Hà Nội, ở hai phần sau sách tuyển 120 tác giả với 195 bài thơ hay về Thăng Long - Hà Nội qua 1000 năm kể từ bài "Phò giá về Kinh" của nhà quân sự-nhà thơ Trần Quang Khải đến bài thơ "Hà Nội trong tôi" của nhà thơ trẻ Đoàn Minh Hằng.
Chắc chắn là nhóm tuyển chọn dựa trên những tiêu chí nhất đinh, song tiêu chí chất lượng nghệ thuật được đặt lên hàng đầu và 195 bài thơ đã chọn đạt được yêu cầu đó.
Những bài thơ mà tôi nêu trên đây được nhiều người biết đến, nhằm gợi mở cảm xúc về Hà Nội, để bạn đọc tiếp cận với cuốn sách mà tôi đang đề cập. Dĩ nhiên, tôi coi đó là những bài thơ hay đáng được nêu nằm trong những bài thơ hay mà nhóm tuyển chọn đã đưa vào cuốn sách.
Một điều đáng nói nữa là, những bài thơ hay về Thăng Long - Hà Nội qua 10 thế kỷ cũng là những bài thơ hay có ý nghĩa của cả nước không chỉ mang đậm giá trị nghệ thuật, mà còn có ý nghĩa to lớn về văn hóa, lịch sử. Cảm ơn nhóm tuyển chọn công trình này và xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc!
Hà Nội,tháng 8-2010
THƠ TÌNH CỦA MỘT NHÀ THƠ NỮ
(Đọc “NGƯỜI TÌNH TRONG MƠ”
của Nguyệt Vũ - NXB Văn học-2011)
Mai Thanh
Xưa nay, kể cả nhà thơ nam cũng như nhà thơ nữ đều làm thơ tình, song vẫn thấy thơ tình của các nhà thơ nữ có nét đặc sắc, độc đáo riêng, gọi chung, đó là nét nữ tính. Song, nét nữ tính ấy, không nên hiểu là cách thể hiện kín đáo, rụt rè, ủy mỵ, mà là sự thể hiện thật lòng về tình yêu; điều đó, ở nam thi nhân ít khi có được. “Người tình trong mơ” của nhà thơ Nguyệt Vũ bộc lộ khá rõ nét thật lòng ấy.
Khi yêu, đôi bạn tình luôn nhớ nhau như “đứng đống lửa, như ngồi đống than”(ca dao), song dường như nỗi nhớ ấy day dứt hơn ở phía người con gái, đến mức nàng phải nói thật lòng với đất trời về nỗi nhớ của mình, để mong qua đó, chàng về với mình cho nỗi nhớ nguôi ngoai : «Này, gửi vào trong gió chút nồng nàn men môi/Này, gửi vào mây trời hương thơm xuân ... mềm ấm/Này, gửi vào tiếng sấm rằng em, em yêu anh/Ơi ngọn gió mát lành/Gửi anh cho em nhé! » (Lời hoa cỏ, tr.5). Nỗi nhớ được biến thành sợi làm bằng anh và em, để « Vòng tay anh đắp giấc em nồng » (Sợi nhớ, tr.18)... Sự thật lòng nói về nỗi nhớ đến mức: “Tưởng chừng không sống nổi” (Mặn, tr.54).
Bài thơ “Người tình trong mơ” – bài thơ lấy tên chung cho tập thơ - là bài thơ nói thật lòng mình về sư nồng nàn của tình ái: “Quyến rũ anh bằng mắt, bằng môi/ánh mắt nâu nói lời im lặng/bờ môi dịu dàng đam mê nóng bỏng ...Người tình ơi/làn da mềm mại/khát mơn man/Ánh mắt ngất ngây/mùi thơm thân thể/hoa hồng đêm hoang dại/vòng tay êm ái/mềm và thít chặt/sức mạnh của trăn rừng... (Người tình trong mơ, tr.14).
Như vậy, thật lòng với tình yêu, “Người tình trong mơ” bộc lộ mức độ nồng nàn mà chỉ người phụ nữ mới nói được và nói hết điều đó.
Người phụ nữ khi yêu luôn thấp thỏm tình yêu tan vỡ và thật lòng nói ra điều đó :
Phút hững hờ
lửa cháy trong tim
Hạnh phúc nổi chìm
Mong manh gió thoảng
Bỗng chốc lại giật mình
hốt hoảng:
- Đâu rồi
anh của em?
(Hạnh phúc, tr.20)
Và khi có nguy cơ tình yêu bị đe dọa, thì các cô gái thật lòng níu giữ tình yêu, cầu mong cho tình yêu yên ổn :
Anh hãy trở về với em
Dẫu đôi môi xưa không còn hồng xinh nữa
Đêm không nồng nàn như lửa
Vòng tay ôm lơ đễnh tháng năm dài...
(Hãy về với em, tr.48)
Em thật lòng nói với anh vậy đó! Em không đủ dũng cảm mất anh, nên mong anh “hãy về với em”, dù tình yêu không còn tròn trịa như xưa.
Nguyệt Vũ cũng nói thật lòng trong thơ mình rằng, những người đàn bà đang yêu thường là sùng tín người tình, coi người tình như Chúa Trời vậy :
Giờ này anh ở đâu ?
Trời mùa đông buốt giá
Chúa là ai xa lạ ?
Em chỉ cần anh thôi !
Bởi Chúa của muôn người
Riêng em – anh là Chúa
(Thì thầm đêm Giáng sinh, tr.50)
Và, nhà thơ thật lòng nói về nỗi buồn tàn phai nhan sắc : « Đàn bà cũng tựa bông hoa/Bừng lên sắc thắm, vỡ òa...tàn phai » (Xế chiều, tr.58). Với « Cơn mưa chiều », nhà thơ cũng thật lòng nói về nỗi cay đắng trong tình yêu « mà lòng sao cay đắng/khóc thầm ngày hoang vu... Cơn mưa chiều bối rối/ gọi tên anh nghẹn lời »... (Cơn mơ chiều, tr.64).
Cũng rất thật lòng, «Người tình trong mơ » nói về khía cạnh nhạy cảm, đó là tình dục. Có thể hiểu, nhà thơ Nguyệt Vũ quan niệm rằng : Khi tình cảm lứa đôi phát triển dẫn tới sự đòi hỏi tiếp xúc thân thể của đôi tình nhân, đó là tình dục, thì tình cảm ấy đạt tới tình yêu thăng hoa. Sẽ không có tình yêu hoàn thiện nếu chỉ có giao lưu, gặp gỡ tâm hồn mà không có gần gũi, tiếp xúc thân thể – tình dục. Sự đồng điệu của hai yếu tố ấy bổ sung cho nhau, không thể thiếu trong tình yêu.
Xưa nay, thơ ca đã đề cập đến tình dục, nhưng ở nhiều mức độ khác nhau, khi kín đáo theo cách cổ điển, khi bộc bạch theo cách hiện đại. Cách được đông đảo bạn đọc chấp nhận là : Thơ ca cần thiết phản ánh tình yêu với mọi khía cạnh của nó, nhưng phản ánh một cách thanh tao về tình yêu. « Người tình trong mơ » đạt được điều đó với cách nói thật lòng về tình yêu thăng hoa : « Môi anh như chén rượu/Em uống...say đứ đừ./Trong vòng tay ứ hự/Đất trời xoay bung biêng »...
(Yêu, tr.11)
Và nữa :
Gái bén hơi trai ngực căng, mông mẩy/
Tươi mới từng ngày thần dược tình yêu
(Đêm Valentine, tr.16)
Đó không phải là vấn đề liều lượng thể hiện sao cho thanh tao, mà là sự phát triển tự nhiên cho tình yêu thăng hoa trong sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố đắm đuối tâm hồn và khát khao sinh thể...
Người viết bài này chợt nghĩ rằng, các nhà thơ nữ viết về tình yêu thăng hoa bao giờ cũng đạt tới đỉnh của nó. Phải chăng, giống như Nguyệt Vũ, các nữ thi nhân nói thật lòng điều mình muốn nói ? Nói thật lòng chính là thuộc phạm trù « Chân » trong mục tiêu « Chân-Thiện Mỹ » mà văn chương-nghệ thuật theo đuổi. Chỉ riêng nói thật lòng về tình yêu, «Người tình trong mơ » đã xứng đáng được đánh giá cao về chất lượng nghệ thuật trong bạn đọc yêu thơ.
Về nghệ thuật thể hiện, « Người tình trong mơ » chủ yếu với thể thơ tự do, có thể thơ bốn, năm, sáu chữ, có một vài bài theo thể lục bát ; mỗi bài thơ ngắn-xúc tích ; thi từ-thi ngữ chọn lọc, gợi cảm ; vần và điệu được chú ý thích đáng...
*
Đây là tập thơ thứ tư - trong đó có một tập thơ dịch từ tiếng Nga - của nhà thơ Nguyệt Vũ. Chúc mừng nhà thơ về tập thơ mới “Người tình trong mơ” và hy vọng sớm được đọc những tập thơ tiếp theo của chị.
Hà Nội, tháng 10-2011
M.T
ĐÔI ĐIỀU SUY NGẪM VỀ SÁNG TẠO MỘT BÀI THƠ (Tiểu luận)
Có thể nói nhiều điều về thơ, song bài này chủ yếu nói về thơ gắn với hoạt động sáng tác, tức là những vấn đề có tính thực tiễn của thơ, cũng tức là trả lời câu hỏi rằng, để sáng tạo một bài thơ, cần nhằm vào đâu? Xin trả lời ngay: Nhằm vào ba mặt, đó là thi tứ, thi từ-thi ngữ và vần-điệu.
1.Về thi tứ, nội dung hay ý tưởng của bài thơ được gọi là thi tứ. Thi tứ gồm hai cấp độ: thi tứ cơ bản thể hiện ý tưởng của toàn bài thơ; thi tứ chi tiết là chi tiết hóa của thi tứ cơ bản. Thí dụ: Trong bài thơ “Thuyền và biển” của Xuân Quỳnh, thi tứ cơ bản chỉ rõ sự gắn bó chặt chẽ của tình yêu đôi lứa, thi tứ chi tiết là đôi lứa được ví với thuyền và biển mà chỉ mỗi người trong họ mới hiểu được về nhau mà thôi: “Chỉ có thuyền mới hiểu/Biển mênh mông nhường nào/Chỉ có biển mới biết/Thuyền đi đâu, về đâu/Những ngày không gặp nhau/Biển bạc đầu thương nhớ/Những ngày không gặp nhau/Lòng thuyền đau - rạn vỡ/Nếu từ giã thuyền rồi/Biển chỉ còn sóng gió...”. Điều này rất rõ đối với mỗi người làm thơ: Bắt đầu là cảm hứng về một đối tượng thi ca nào đó, rồi cái cảm hứng ấy được hình thành ra dáng hình của nó, đó là thi tứ cơ bản; thi tứ cơ bản được thể hiện qua các thi tứ chi tiết theo lô-gic tất yếu của cảm xúc và hình tượng thơ để tạo nên hệ thống thi tứ tổng thể của bài thơ. Cần chú ý “thi tứ cơ bản được thể hiện qua các thi tứ chi tiết theo lô-gic tất yếu của cảm xúc và hình tượng thơ”, bởi nếu không, bài thơ dễ bị dẫn vào cõi mung lung, vô định.
Có lẽ, cũng nên nói đôi điều về các khái niệm thi ca “hướng nội” và “hướng ngoại”. Nói nôm na, hướng nội là cảm xúc của nhà thơ hướng vào chính mình; còn hướng ngoại là cảm xúc ấy hướng vào hiện thực bên ngoài. Nói vậy chỉ là tương đối, chứ thực ra, rút cục đều quy về “hướng nội” mà thôi, bởi thơ ca là trạng thái phản ứng của tâm hồn thi sĩ, mà tâm hồn thi sĩ thì tất yếu là “nội” rồi! Thì đó: Bài thơ “Chiều trên Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan phải đâu là hướng ra cái cảnh sắc thiên nhiên của con đèo, mà chính là sự bộc lộ nỗi niềm bên trong của Bà thông qua cảnh sắc ấy về một thời hoàng kim đã trôi vào dĩ vãng...Đó cũng chính là cái bản ngã trong cuộc đời cũng như trong thi ca vậy!
2. Tuy nhiên, chỉ riêng thi tứ, chưa phải là bài thơ, thường nó chỉ tồn tại trong đầu thi sĩ. Cũng có nhà thơ viết thi tứ ra trên giấy hoặc vào máy vi-tính, thì nhiều lắm, đó cũng chỉ là phác thảo của một bài thơ. Muốn trở thành thơ, thi tứ phải được thi từ-thi ngữ hiển thị hóa. Thi từ là từ mang yếu tố thơ; tương tự, thi ngữ là một nhóm từ mang yếu tố thơ - khác với từ-ngữ thông thường là ở chỗ ấy. Chính nhờ yếu tố thi ca mà các từ và ngữ giúp cho thi tứ thành thơ. Các thi từ-thi ngữ giữ vai trò hết sức quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định sự thành công của bài thơ. Thí dụ, để thể hiện về tinh thần đoàn kết tạo nên sức mạnh mà viết là: “Anh em đồng chí chúng ta/ Cùng nhau đoàn kết để mà tiến lên!”, thì không thể coi đó là thơ. Nhưng với thi từ và thi ngữ có sức biểu cảm mà viết rằng: “Tay trong tay, vai bên vai ta đi/Ngạo nghễ ngực trần, nguy hiểm, nề chi!” thì có thể coi là thơ rồi. Vì sao vậy? Là nhờ các thi từ-thi ngữ “Tay trong tay”, “vai bên vai”, “ngạo nghễ ngực trần”, “ nề chi!”... tạo nên thành công của thi tứ “kết đoàn tiến lên” nói trên. Đặc điểm của thi từ-thi ngữ là kín, đẹp và mới. Về kín, người xưa nói: “Thi mạch kỵ lộ” nghĩa là thơ không được nói lộ liễu ý tứ. Lộ hay không cũng là do thi từ-thi ngữ mà thôi! Ý tứ mà lộ thì không còn là thơ, nhiều lắm cũng chỉ được gọi là diễn nôm hoặc vè. Về đẹp, từ-ngữ đẹp không phải là từ-ngữ hoa mỹ, mà là sức biểu đạt của nó trúng và đúng với thi tứ và nhất là có sức gợi cảm. Về mới, tức là sáng tạo thi từ mới – điều này khó, nhưng không phải là không thể. Nhưng phổ biến là dùng từ ngữ trong thi cảnh nhất định, để tạo nên trạng thái thẩm mỹ đặc biệt, thí dụ “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” (Khương Hữu Dụng) hoặc “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng cũng là trường hợp tương tự. Là thể thơ tự do, nhưng “Tây tiến” gây thích thú đối bạn đọc bằng các câu với những thi từ-thi ngữ như: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống/Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, hay: “Nhớ ôi, Tây Bắc cơm lên khói/Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”... Như vậy, với thi từ-thi ngữ càng “kín”, thơ càng hay. Song, nhất thiết, tránh tình trạng lạm dụng đặc điểm này của thi từ-thi ngữ, để đưa bài thơ vượt qua ranh giới khó hiểu, sa vào tình trạng không hiểu nổi đối với người đọc, ngay cả đối với người đọc sành thơ!
3. Không thể tưởng tượng được là thơ không có vần-điệu. Từ xưa đã thế, nay vẫn thế! Nói vần điệu là nói chung, thật ra là vần và điệu. Vần thì đã quá rõ, như đối với các dạng thơ Đường luật, lục bát, song thất lục bát, thơ ba, bốn, năm, bảy chữ ... có luật gieo vần nhất định. Thơ tự do không theo luật vần nhất định, nhưng có điệu, mà điệu thì đa dạng lắm, như có vần linh hoạt-hạn chế, có âm điệu, ngữ điệu, tiết tấu... Ngay cả dạng thơ được gọi là “thơ văn xuôi” cũng có âm hưởng thi ca. “Thơ văn xuôi” có "họ hàng" với "văn xuôi giàu chất thơ". Về loại văn này, đáng kể đến là các bài “Trung thu độc lập” và “Cây tre Việt Nam” của nhà văn Thép Mới. Đọc lại bài ký “Trung thu độc lập”, ta cảm thấy yếu tố thi ca toát ra rõ rệt, thí dụ một vài câu: “Đêm nay anh đứng ở gác trại. Trăng ngàn, gió núi bao la, khiến lòng anh man mác nghĩ tới trung thu, nghĩ tới các em. Nghĩ tới các em là anh nghĩ tới cả một thời thơ ấu của anh, của tất cả chúng anh...”. Văn giàu chất thơ là vậy, nhưng thơ văn xuôi thì không thể xa rời thi điệu. Có tình hình thơ phát triển đến thơ tự do, thơ văn xuôi bởi thơ có vần không chứa đựng hết ý tưởng của thi sĩ. Nhưng, đã là thơ thì không thể không có vần hoặc điệu. Nguyễn Đình Thi có nhiều bài thơ thể tự do, nhưng ông coi trọng điệu trong thơ, thậm chí, ông còn sử dụng vần linh hoạt-hạn chế, thí dụ: “Súng nổ rung trời giận dữ/Người lên như nước vỡ bờ/Nước Việt Nam từ máu lửa/Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Rõ ràng, vần linh hoạt-hạn chế của các câu thơ trên thể hiện ở “dữ” với “lửa” và “bờ” với “lòa”... Xin hiểu cho rằng: Giai âm trong nhạc khiến người nghe đắm đuối, say mê – đó là thế mạnh của nhạc! Thơ vốn đã có chút ít giai âm của nhạc – đó là vần-điệu, dại gì mà các nhà thơ cắt bỏ nó đi?
*
Nhìn chung, các dạng thơ hiện nay thể hiện theo tinh thần những điều trình bày trên đây, nhất là thơ cách tân có căn cứ, tạo nên hấp dẫn đối với người đọc. Tuy nhiên, cũng có những bài thơ dè dặt, bảo thủ trong cách thể hiện, gây cảm nhận là sáo mòn, tẻ nhạt. Ngược lại, cũng có những bài thơ “cách tân” không căn cứ dẫn đến vô định, không hiểu nổi, gây khó chịu đối với độc giả. Vấn đề là thi tứ, thi từ-thi ngữ, vần-điệu đồng hành cùng cảm hứng thi ca, nhà thơ tạo nên tác phẩm nghệ thuật, trong đó, “cái tôi” của tác giả cùng với “cái ta” của độc giả hòa quyện vào nhau.
Hà Nội, tháng 6-2011
Mai Thanh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)