Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

BÀI CA THÁNG NĂM


Tháng năm này nóng lắm phải không em?
Khi cái hạ đổ nồng oi vào đất
Em bận việc nhà, em lo việc nước
Lại nữa làm thơ lên án giặc Tàu
Tháng năm này lại thêm những cơn đau
Đau cái bụng ẩm ương
Đau con tim khó bảo
Em vẫn lòng thơm thảo
Vẫn những buổi chiều trao anh…

Tháng năm này trời cao mây xanh
Bằng lăng tím một màu đường phố
Khiến anh nhớ ngày này năm cũ:
Câu thơ đầu tiên nuông nã ta-mình
Rồi ta đưa nhau vào cõi sinh tình
Rồi dắt tay nhau  vào ánh sáng
Trí tuệ diễm huyền, tình yêu sáng láng
Ta gọi thầm trong dào dạt tim yêu:
Em nữ thần cho anh nâng niu
Anh thiên tài cho em âu yếm

Tháng năm ấp ôm trìu mến
Tháng năm ngào ngọt say lời 
Tháng năm mắt tình xao xuyến
Tháng năm rạng rỡ mắt cười… 

ĐỌC THƠ NGÔ THÁI


Tôi đang có trên tay tập thơ “Thơ và bầu bạn” của Ngô Thái (Nhà xuất bản Hội Nhà văn - 2012).
Quê hương Đất Tổ; nguyên là một đội viên, rồi là một cán bộ chỉ huy thanh niên xung phong; tiếp xúc với nhiều miền quê, nhiều con người, trải qua hơn nửa thế kỷ, thơ Ngô Thái như là bức họa muôn màu, cũng là tập tự sự về hiện thực cuộc đời đã đi qua. Như vậy, có thể nói được rất nhiều điều về thơ Ngô Thái.
Tuy nhiên, khi giới thiệu một tập thơ nào đó, tôi cố tìm ra những nét riêng của tập thơ ấy, chứ không đề cập tràn lan tất cả những gì có trong tập thơ, ngay cả những điều rất đáng được nêu lên - chẳng hạn, trong tập thơ này là về cuộc đời của người đội viên, người cán bộ thanh niên xung phong; về quê hương Đất Tổ; về Tổng Công ty Giấy Bãi Bằng . Những gì đáng lưu ý trong thơ Ngô Thái?
Về bạn, với  bạn – đúng như tựa đề tập thơ ghi.Theo trình tự của tập thơ, ta thấy rõ điều đó.
Với Sĩ Tân, Ngô Thái đi Chợ Viềng; tặng NH và  “Hẹn; với Diệu Thu là “Nửa nào…?”; tặng cháu Kim Chuyền “Ngời ánh gương”. Với Vũ Giang – người bạn thơ, bạn đời thân thiết, Ngô Thái có “Quê hương”:
                             Minh Nông…
                              Mùa gặt tôi về
                              Đường làng ngõ xóm bộn bề rạ rơm
Thoảng mùi gạo mới cơm thơm
Dẻo thơm giống lúa Nàng Hương quê nhà! Và để rồi, ở phần họa thơ, Vũ Giang có đến bốn bài thơ họa thơ Ngô Thái như “Đang độ trăng tròn”,”Tìm nhau mai hậu”, “Kỷ niệm tháng năm”. Và Bởi em màu tím” với lời thơ nồng nàn:
         Nhớ nhành hoa tím thương yêu
         Ngẩn ngơ trong dạ một chiều đầy vơi
         Tím lòng tím cả mây trời
          Gửi bông hoa tím một lời thủy chung.
Ngô Thái còn có thơ với nhiều bạn thơ khác nữa: Cúc Nguyễn, G7, Ngô Đức Tâm, Ngô Toàn Thắng (và được Ngô Toàn Thắng viết nhiều về anh ở phần giao lưu và bình luận thơ Ngô Thái), Thang Ngọc Pho, Phan Chúc, Mai Ngân, Bạch Thiên Hương, P.N và N. H, Phạm    Huy Thông, Đinh Phạm Thái, Bành Thanh Bần, Off Mùa Thu 2012…
Qua đó, thấy rõ, thơ Ngô Thái thể hiện tính thân thiện và tình thân ái với bạn trên thơ và bạn trong đời thật bao la và sâu nặng.
2. Với tinh thần ấy, Ngô Thái có nhiều bài thơ  như là chân dung các cô gái xinh đẹp.
Về hình thể:
                             Tuổi em đang độ trăng tròn
                              Vai trần đã vậy, yếm còn hẹp ngang!
                               Nước da trắng nõn mịn màng
                               Hồn căng sức trẻ…khuôn vàng thơ ngây
                                                                   (Tuổi trăng tròn)
       Hay:
                              Vô tình. Một khoảnh khắc thôi!
                               Em. Khuy áo ngực buông lơi chưa cài
                               Ửng hồng e lệ mắt nai
                                Tim anh loạn nhịp. Bởi ai hớp hồn?
                                                     (Khoảnh khắc)
Về tâm hồn:
                                   Mới qua tuổi trăng tròn
                                    Tâm hồn em trong trắng
                                     Một tình yêu say đắm
                                     “Lỡ nhịp” bởi chiến tranh
                                      Bước qua tuổi xuân thì
                                     Còn nét duyên con gái
                                     Vị hương đời để lại
                                      Vơi nỗi buồn cô đơn
                                                                    (Hương đời)
Về điều này, thấy rõ Ngô Thái là một nhà hội họa say tìm cái đẹp, mà trong trường hợp ở đây là cái đẹp của người phụ nữ. Điều đó cắt nghĩa thêm về tình đời tình người thắm đẫm trong nhà thơ Ngô Thái.
3.Những gì ta đã nói về thơ Ngô Thái là cảm xúc trào dâng được bộc lộ  về (và với) con người. Song hành với đó là nỗi niềm trầm lắng mà ít ai nhận ra ở nhà thơ. Ngô Thái thắp hương khấn vợ:
        Anh thắp lên một nén hương trầm
        Mong khói nhang gửi lòng anh thương nhớ
        Vượt qua bờ âm dương cách trở:
       “Vĩnh viễn trường tồn –Em Người Vợ Đảm Đang)                            (Nén hương trầm)

Đeo một nỗi buồn ở tuổi già, nhà thơ căn dặn các con hãy thông cảm với mình về những gì bất ổn sẽ xảy, rồi kết luận như là lời cầu xin kẻ hậu thế:
             Hãy tiếp sức cho Cha những bước đường còn lại
              Để Cha vui đi hết chặng đường đời
              Cha yêu các con – một tình yêu bất tận
              Thương các con – Cha nhắn gửi đôi lời!
                                                     (Tâm sự tuổi xế chiều)
Vậy đó, một tâm hồn thi ca phơi phới, xôn xao xen với nỗi niềm, trầm lắng được thể hiện khá chuẩn chỉnh và hấp dẫn. Là người làm thơ Đường luật, Ngô Thái sử dụng ngôn từ và vần luật khá mực thước, với các dạng thơ khác nhau: Thơ lục bát; thơ khổ với dòng ở mỗi bài có số chữ khác nhau; thơ tự do…phù hợp với ý tưởng thi ca của từng bài thơ nhất định.
Cảm ơn và chúc mừng nhà thơ Ngô Thái về tập “Thơ và bầu bạn”. Chúc nhà thơ giành được nhiều thành công hơn nữa trên con đường sáng tạo thi ca của mình.

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Truyện ngắn lịch sử-văn hóa tâm linh CÔNG CHÚA MỸ HOA Mai Thanh



   
Vào đầu thế kỷ 18, Hưng Giáo là một làng quê thuộc huyện Thanh Oai với dòng sông thơ mộng ấp ôm đồng lúa, bãi ngô và nương dâu xanh mướt. Cuộc sống yên bình trong nghề cấy lúa, trồng ngô, canh cửi pha chút bán mua tơ lụa với phố thị mãi tận Hà Đông và Thăng Long thành, khiến Hưng Giáo như một cô gái quê xinh đẹp mang dáng vẻ thị thành. Ở Hưng Giáo có ông Nguyễn Công Cau là tộc trưởng của gia tộc Nguyễn Công. Ông Cau có cô con gái tên là Nguyễn Thị Trầu tròn tuổi 17, xinh đẹp, nết na, đặc biệt, Trầu là một thầy thuốc giỏi, chữa bệnh cứu người cho cả vùng vượt ra cả miền đất Thanh Oai này.  Cảnh sống yên vui đó bỗng bị ập xuống bởi một tai nạn bất ngờ: Nạn dịch tả như là gã thần chết tham lam cướp đi không chỉ của Hưng Giáo mà cả vùng Thanh Oai, thậm chí lây lan đến cả vùng tiếp giáp thành Thăng Long, cướp đi  hàng trăm mạng người. Bệnh lạ phát triển nhanh, khiến cô Trầu  ngơ ngác và rất đau lòng vì thấy mình bất lực trước đại dịch dịch này.  Các nhà chức trách trong vùng dâng bản tấu trình vua Lê Dụ Tông (Niên hiệu Bảo Thái: 1720 - 1729) về nạn dịch này mong được cứu giúp, song triều đình cũng đành bó tay. Trong khi đó, Lê Kim Thành, quê làng Hưng Giáo, đang là cận thần trong Phủ chúa Trịnh có ý định dâng cô Trầu vào cung vua để cô tim cách chữa bệnh. Nhưng cô đã khước từ, đêm đêm trằn trọc không ngủn ngày ngày tiếp cận bệnh nhân để tìm cách cứu nhân độ thế!
Dân làng không hy vọng ở sự cứu giúp của nhà vua, dân cư trong vùng hoang mang đến cực điểm, họ tụ hội ở làng Hưng Giáo, bàn  Họ tìm được thầy mãi tận chân núi Tản, mang theo võng đay, cáng thầy về Hưng Giáo. Một vị linh thánh nhập hồn vào thầy và phán: Dân làng nghe ta nói đây:
- Trong làng này có dòng họ Nguyễn Công?
Nhiều người đồng thanh:
-Lạy thánh mớ bái, dạ có ạ!
Một ông tuổi trung niên, tóc hoa râm khúm núm, bước tới trước thánh: -Dạ, thưa linh thánh, con là Nguyễn Công Cau, là trưởng tộc Nguyễn Công ạ!
- Phải, ta biết! Nhà ngươi có con gái tên là Nguyễn Thị Trầu, đúng không?
-Dạ, Thưa linh thánh, phải ạ!
- Sáng ngày mai, Trầu sẽ đi ra khỏi nhà, không ai được ngăn cấm: Trầu sẽ làm nhiệm phận để cứu dân làng, rõ chưa?
Ông Cau và nhiều người khác: - Dạ, thưa linh thánh, chúng con rõ rồi ạ!
Chưa nghe hết câu trả lời, hồn linh thánh đã thoát khỏi thân xác thầy – thấy nằm lăn ra trên chiếu, thở phì phì:
-Tôi đang ở đâu thế này? À, nhớ ra rồi, ở làng Hưng Giáo!


                                              *
                                            *   *

  Vào sáng tinh mơ hôm sau, cô Trầu dậy sớm chẩn bị cho chuyến đi của mình: Một tay nải đựng tư trang gồm cả một gói cơm nắm kẹp thêm gói muối vừng, một bị cói to mà cô vẫn dùng để đựng thảo dược tươi tìm kiếm được khi hái thuốc trong rừng. Rồi cô ra đi lúc bình minh chưa hé. Người cha căn dặn: “Con cố tìm được dược mộc chữa cho dân làng và cả vùng miền để tỏ lòng nhân đức của dòng họ Nguyễn Cao nhà ta!”. “Vâng ạ, con xin nghe lời cha!” – cô đáp lời  cha một cách tự tin.
Cô Trầu theo hướng Tây, đi về phía Hương Tích; đi mải miết quên cả ăn cơm nắm mang theo. Đã về chiều, chân mỏi rã rời, cô đến được một cánh rừng um tùm rậm rạp với cây tán hẹp và cây dây leo chằng chịt – nơi mà cô chưa đến lần nào trong các lần đi tìm cây thuốc trước đây. Tay vạch lá, mắt quan sát, cố tìm những loại lá cây gần giống với những loại lá cây chữa bệnh đường tiêu hóa mà cô đã tìm trước kia. Bỗng mắt cô hoa lên, người ngây ngất và như thiếp đi mấy giây. Khi mở mắt ra, trước mắt cô là một thảm  rộng xanh rờn thứ dây leo mà lá như “cánh nhạn bay” dịu dàng, rung rinh cùng gió rừng đượm màu thiền uyển. Như được mách bảo, cô Trầu coi đây là thứ lá mình đang cần. Cô hái lấy hái để, chẳng mấy chốc bị cói của cô đã đầy lá “cánh nhạn bay”. Cô muốn nói lời cảm ơn cụ thể đến ai đó là người cho lá, nhưng đó là ai, thì cô không biết được, nên đành nói lời cảm ơn chung chung nhưng rất nho văn, mà cô vẫn dùng sau mỗi lần hái dược thảo: “Hành ân thụ ân; Hành phúc thụ phúc!” (Làm ơn nhận ơn; làm phúc nhận phúc!). Trầu ra về, trời đã hoàng hôn.
Cô nói với cha về chuyến đi hái thuốc của mình và nhờ cha nói với dân làng lập cho cô một đàn tràng để cô làm lễ khấn niệm Thiên-Địa. Trong buổi lễ, Trầu khấn nôm: “Lá “ánh nhạn bay” là thực thể, Trời-Đất là tâm linh. Xin thực thể và tâm linh hãy hòa quyện vào nhau để cứu dân tình thoát khỏi cơn nguy biến!”. Khấn rồi, cô trao cho mỗi người - kể cả người đang hoặc chưa mắc bệnh - một chiếc lá “cánh nhạn bay” mang về “rang vàng hạ thổ” chêm vào vài hạt muối uống vào vào sáng tinh mơ. Trầu giao bị lá còn lại cho  hương trưởng để phát cho mọi người trong huyện và trong vùng miền đang bị nạn dịch hoành hành.
Kỳ lạ thay! Tất cả ai uống lá “cánh nhạn bay”, với người đang mắc bệnh – khỏi ngay lập tức; với người chưa mắc bệnh – không mắc bệnh nữa!
Làng quê Hưng Giáo cùng cả vùng miền hân hoan cao độ và vô cùng biết ơn cô Trầu – người cứu mạng vô cùng đức độ và nhân văn!

 
                                               *
                                            *     *

Làng Hưng Giáo và vả vùng miền thoát nạn dịch bệnh khủng khiếp, làng quê trở lại yên vui, dòng sông quê ấp ôm quê làng cũng hát lên bài ca an lạc.
Song, đớn đau thay! Đó lại là lúc làng Hưng Giáo và cả  vùng miền khóc than, thương tiếc người con gái đức độ và nhân văn ấy đã “ra đi”.
Kể rằng, sau khi cúng đàn tràng và phát lá “cánh én bay” cho mọi người, trở về nhà, chỉ sáu khắc sau đó, cô Trầu phát bệnh – chính cái bệnh dịch đang hoành hành ấy. Thế là cô “ra đi”. Điều lạ là cô “ra đi” khi tròn tuổi 17, vào ngày 17 và 17 cũng là ngày sinh của cô.  Mọi người vô cùng thương tiếc, họ than khóc râm ran và cùng nhau lo tang  lễ mai táng cô, đưa cô về chốn vĩnh hằng.
Buổi chiều hôm ấy, khi dân làng đưa cô ra đồng, thì bất chợt, trời đất nổi cơn mưa dông dữ dội. Sân làng tạm dừng, vào trú mưa quanh đó. Khoảng nửa khắc sau, mưa dông tan hết, mọi người trở ra tiếp tục công việc đưa tang, thì lạ thay: Quan tài của cô Trầu đã chìm sâu vào một gò đất mới – gò đất tươi rói vẫn đang tiếp tục tự nâng cao lên. Ai nấy đều phủ phục trước gò đất mà vái lạy, khấn niệm rì rầm đến khi trời sập tối.
Dân làng lập đền thờ cô và gọi cô là Bà Trầu. Người người gần xa tấp nập đến miếu lễ Bà không chỉ vào  ngày giỗ Bà, vào ngày lễ tết, mà vào cả ngày thường, khi ốm đau bệnh tật, bởi họ tin rằng, Bà vẫn chữa bệnh cho mọi người như khi Bà còn sống. Nhiều nơi có miếu hoặc đền thờ Đức Trầu. Bà được tôn vinh cùng các nhân vật tâm linh trong văn hóa Việt Nam.
Quả vậy, bà còn sống mãi không chỉ trong ý thức tâm linh của những ai đến các đền miếu để lễ bà, mà còn sống qua cách lưu lại những nét đặc trưng của Bà cho những thế hệ tiếp nối trong dòng họ Nguyễn Công. Điều rất rõ là các cô gái hoặc phụ nữ họ Nguyễn Công đều xinh đẹp, tài năng và đức độ ở mọi thời kỳ lịch sử. Xưa, họ là những cô gái  hoặc các chị phụ nữ đẹp người, đẹp nết, nền nã gia phong. Nay, họ là những cô gái hoặc các chị phụ nữ xinh đẹp, làm khoa học, hoạt động kinh doanh, là nhà thơ, nhà văn, nhà văn hóa có tiếng tăm…   
Hơn hai trăm năm đã trôi qua, tuy chỉ là một cái đền nhỏ, nhưng ở đó,  hình ảnh một thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp, đức độ - nhân văn của làng Hưng Giáo và cả vùng miền vẫn chói lọi như một thần y từ mẫu. Nhiều giai thoại thiêng liêng, huyền diễm về Bà vẫn được lưu truyền trong dân gian. Ví dụ,  có một chàng nho sinh lãng du chèo thuyền theo dòng kênh tiến thẳng vào trước cửa đền Bà. Khi đến gần cửa đền, thuyền bị quay ngang, không thể nào điều khiển được. Chàng nho sinh  đành áp thuyền vào bờ kênh, ngồi nghỉ cho lại sức. Nhân cảnh quan ngoạn mục, đối cảnh sinh tình, chàng nho sinh sáng tác, rồi hát một bài chầu văn khá hay. Lời hát bay bổng theo gió đưa vào đền. Bài hát chấm dứt, bỗng nhiên, con thuyền tự tách khỏi bờ, quay mũi vào cửa đền. Chàng nho sinh chỉ đưa nhẹ mái chèo, con thuyền đã có thể lao vút lên phía trước tiến vào sát cửa đền. Khi ai đó kể chuyện này đều chêm vào một câu nói vui nghe ra rất có lý: “Bà Trầu trêu chàng nho sinh nọ, vì Bà có “cảm tình” với chàng!. Đừng nghĩ rằng, các vị thánh thần chỉ biết quở phạt, mà còn biết vui đùa, thể hiện tình cảm với người trần nữa cơ đấy!”.

    
                                                  *
                                               *     *
                              
 
 Nguyễn Lan Nhi - hậu duệ thứ mười của Công chúa Mỹ Hoa - là một người đàn bà thông minh và xinh đẹp - hẳn là Lan Nhi được thừa hưởng gien di truyền của Bà Tổ Mẫu gia tộc Nguyễn Công. Tuy không biết nghề làm thuốc chữa bệnh cứu người như Bà, nhưng bù vào đó, Lan Nhi là một nữ doanh nhân thành đạt, một nữ thi sĩ nổi tiếng, được nhiều người biết đến. Ngồi trước chiếc Laptop đời mới hiển thị trên màn hình những trang tư liệu về Bà Tổ Mẫu, Lan Nhi lật giở, rồi chụp ảnh bốn bản sắc phong. Cô ngẫm nghĩ: “Khi mà tình trạng y học nước nhà với công việc chăm lo sức khỏe cho dân như hiện nay, chân dung Bà Nguyễn Thị Tôn Thần - Bà Trầu cần được nêu gương trong y giới. Điều đó quả thật đáng làm”. Và cô đang góp phần làm việc đó. Cô bấm máy gọi cho người bạn thân là một nhà văn hóa hiểu biết nhiều và rất tin cậy trong lĩnh vực văn hóa - cũng đã có vài ba lần hai người nói chuyện trực tiếp với nhau về Bà Công chúa Mỹ Hoa. Lần này, họ trao đổi với nhau qua điện thoại khá lâu. Người bạn nói với Lan Nhi rằng, hình ảnh Bà Trầu đã in đậm trong văn hóa tâm linh người Việt. Tuy nhiên, về nghiên cứu, khảo sát cũng như về tu bổ, dựng xây đền miếu về Bà chưa được thực thi đúng tầm vóc một nữ thần như Bà. Nhà văn hóa gợi ý với Lan Nhi rằng, nên kiến nghị để được tiến hành hai bước – bước nghiên cứu, khảo sát và bước tu bổ, xây dựng. Mỗi bước có vai trò và kết quả nhất định. Bước trước làm cơ sở cho bước sau. Hoàn thành bước trước đã là một kết quả đáng kể. Bước sau là kết quả cao hơn, là khẳng định và xúc tiến kết quả của bước trước. Là người phụ nữ thông minh, giỏi giang và hiểu biết, Lan Nhi tiếp thu nhanh lời khuyên của nhà văn hóa và cô đã dự kiến được ngay công việc phải làm cho Bà Tổ Mẫu. Cô có ý định nghỉ phép một tuần, để đến các viện khoa học xã hội như Viện Hán Nôm, Viện Lịch sử, rồi tiếp đến là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch… Lòng cô rộn lên niềm vui thơ thới cùng với niềm tin thành công về công việc mà cô đang bắt đầu – công việc không chỉ cho riêng cô, cho gia tộc Nguyễn Công, mà cho cả cộng đồng người Việt với văn hóa tâm linh. Cô cất lên nhè nhẹ lời bài hát chầu văn do chàng nho sinh thuở xưa sáng tác và hát khi chèo thuyền lãng du vào Đền thờ Đức Trầu:
 “Chữa bệnh cứu người, í i…, chữa bệnh cứu người!
   Đền linh, í i… mà miếu nghiệm, í i…, cho đời, cho đời không quên…”.
Đúng, đời không bao giờ quên Nguyễn Thị Trầu - Bà Trầu - Mỹ Hoa Công Chúa - Nguyễn Thị Tôn Thần - Đức Trầu và những linh thần khác như Bà!

                               Hà Nội, Mùa Xuân Giáp Ngọ (2014)
                                                         M.T


Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

TÌNH YÊU MÀU QUAN HỌ Truyện ngắn

Tôi biết anh từ một lần gặp gỡ trên đường hành trình về Hội Lim trong mùa xuân cách nay gần ba năm – khi tôi là thành viên của đoàn Trung tâm văn hóa thành phố và anh là người phụ trách đoàn Câu lạc bộ thơ Tháp Bút. Hai đoàn chúng tôi gặp nhau khi dừng lại nghỉ chân, để rồi chỉ đi một đoạn đường ngắn men theo bờ sông vào lễ hội. Riêng tôi lại gặp anh từ một nụ cười, vâng một nụ cười mà tôi không thể gọi đó là gì, chỉ thấy rằng tôi không thể quên và bỏ được nụ cười ấy! Còn anh, chắc chắn là anh cũng bị tôi thu hút, nhưng bằng gì, thì lúc đó tôi chưa biết được. Chỉ biết rằng, từ lúc ấy, chắc là anh cũng giống tôi, cảm thấy rằng, rất muốn gần gũi nhau. Là người phụ trách đoàn, anh dùng quyền của mình tuyên bố như vừa ban lệnh, lại như vừa hỏi ý kiến: “Hai đoàn Bút Tháp và Trung tâm văn hóa nhập chung thành một đoàn, nha các bạn!”. Bấm đúng tâm lý thích đàn đúm, mọi người reo lên: “OK!”, “Xong ngay!” , “Đồng ý, giơ cả hai tay!”…Thế là hai đoàn chúng tôi hòa vào nhau, tiếp tục đoạn đường vào hội, râm ran tiếng nói cười vui vẻ. Đến hội, các liền anh, liền chị đã bắt đầu với bài hát “Mời trầu”: “Trầu này trầu tính trầu tình/Ăn vào cho đỏ môi mình môi ta/Không ăn cầm lấy về nhà/Buộc vào dải yếm cho ta nhớ mình”… Rồi tiếp tục, các liền anh liền chị hấp dẫn chúng tôi qua các lời ca quan họ mượt mà dịu ngọt. Tôi đặc biệt xúc động với bài hát “Giao duyên”: “Anh còn son em cũng còn son/Ước gì ta được làm con một nhà/Em về nói với mẹ cha…”. Bỗng anh liếc mắt nhìn tôi, mỉm cười…ôi, lại nụ cười…Tôi vờ như không để ý, mà chăm chú nhìn lên sân khấu. Tự nhiên, tôi cảm thấy có gì không phải với anh, tôi liếc nhìn anh như chuộc lại phút giây giả vờ thơ ơ của mình. Anh nhìn lại, bốn mắt chúng tôi gặp nhau, cả hai cùng mỉm cười đầy ngầm ý. * * * Hội Lim giã bạn với bài “Người ở đừng về”. Anh và tôi chia tay với việc trao nhau số điện thoại, địa chỉ Email và cả địa chỉ nhà ở, cuối cùng là những chiếc… hôn gió. Ngồi trên hai xe khác nhau trở về Hà Nội, tôi ngẫm nghĩ miên man về cuộc gặp gỡ với anh trong chuyến đi lễ hội lần này. Thật tình, tôi đã có những gặp gỡ, rồi quen biết vài ba người bạn trai kể từ khi tôi đến thì con gái. Họ mỗi người một vẻ, không ai giống ai, nhưng tất cả họ đi qua tôi như một cơn gió thoảng. Điện thoại của tôi “tít tít” báo có tin nhắn, tôi bật máy: “ Anh con son, em cung con son/Uoc gi ta se lam con mot nha…”. Tôi nhắn lại: “Ta ve xin phep me cha…”. Với trò chơi tin nhắn, tự nhiên như chúng tôi đã ngỏ lời yêu và như đã là của nhau rồi. Vẫn với trò chơi tin nhắn, chúng tôi nói chuyện với nhau không biết chán qua những con chữ không dấu. Trong một lần anh nhắn tin: “Em yeu anh vi dieu gi?” Tôi nhắn lại: “Khong biet!”. Trả lời thế, nhưng tôi biết quá đi chứ! Như tôi cảm nhận trong buổi đầu gặp gỡ: Nụ cười! Kể cũng lạ, Nụ cười thường là ở người con gái hấp dẫn người con trai, nhưng trong trường hợp của chúng tôi, thì ngược lại! Không, thật ra không hẳn chỉ là nụ cười, mà còn những gì khác nữa ở anh đã hấp dẫn tôi. Tôi nhớ lại nội dung cuốn sách dịch “Điều kỳ diệu của tình yêu” của một nhà khoa học nước ngoài nói đại ý: Mỗi người - nam cũng như nữ - đều phát ra các dòng điện sinh học, trong đó có dòng sinh học tình yêu với tần sổ nhất định. Khi hai dòng sinh học khác giới gặp nhau trùng hợp tần số, thì nảy sinh tình yêu giữa họ với nhau bất kể hoàn cảnh, trình độ, tuổi tác…Phải chăng tôi và anh đã trùng hợp tần số trình yêu? Tôi lại nhắn tin hỏi anh: “Vi sao anh yeu em?” Tin nhắn trả lời: “Chưa noi, con lau moi noi!”. * * * Hôm ấy, anh gọi điện thoại rủ tôi đi lễ Đền Hùng. “Anh đón em ở ngã tư Vọng, cách cửa nhà tôi khoảng 50m!”. Tôi sốt sắng: “Ok!”. Đúng sáu giờ rưỡi sáng chiếc xe hãng Camry đợi tôi ở điểm hẹn. Anh xuống xe mở cửa đón tôi vào ngồi ghế trên, bên anh. Chiếc xe con đưa chúng tôi qua cầu Chương Dương, vượt qua cầu Đuống, tiến thẳng lên phía Đền Hùng. Trên đường đi, để anh tập trung bảo đảm an toàn tay lái, tôi hầu như im lặng, không nói chuyện với anh. Ngược lại, anh vừa lái, vừa nói chuyện thoải mái. Xe đi qua mỗi vùng quê trên đường, anh đều kể về lịch sử, tập quán, lợi thế kinh tế của vùng quê ấy, chẳng hạn khi đi qua những triền đất đỏ trung du, anh giải thích: “Chính vùng đất đỏ trung du mới là vùng đất lợi thế cây trồng, bởi ở đây có thể trồng được nhiều loại cây, không chỉ cây lương thực mà còn cây công nghiệp và cả chăn nuôi nữa, đúng như một nhà kinh tế học cổ điển châu Âu nói rằng, “với đất đai, vấn đề không phải là tính màu mỡ, mà là tính đa dạng của nó…”. Nghe anh kể, tôi hiểu, anh thật sự anh là một thanh niên hiểu biết vừa rộng vừa sâu – tôi không muốn dùng chữ “uyên bác” e rằng quá to tát. Bỗng bất chợt, anh ghìm chậm tốc độ, quay sang hỏi tôi: “Giang này – anh gọi tên tôi – cha mẹ đặt tên em là Giang có ý nghĩa gì?”. Đang bị thuyết phục bởi sự hiểu biết của anh, lại bị hỏi bất ngờ, tôi bỗng bột phát nghĩ ra một câu trả lời đầy tính đối đáp nhưng cũng táo bạo (mà sau này nghĩ lại tự cảm thấy mình có phần “vô duyên”): “Vì anh là biển – tên anh là Hải – nên em là sông…!”. Anh trợn tròn mắt nhìn tôi như ngạc nhiên, không biết bởi tính đối đáp hay tính táo bạo của câu trả lời. Đến khu Đền Hùng, xe dừng bánh. Anh xuống xe, đi vòng sang mửa cửa xe dắt tôi bước vào khu Đền… Đứng trước Đền Thượng, chúng tôi dâng hương và khấn niệm Vua Hùng. Lời anh lầm rầm nhỏ nhẹ, đủ để tôi nghe được:“Con xin Tổ Vương phù hộ cho chúng con được thành vợ, thành chồng…”. Tôi suýt phì cười, vì bỗng nhớ lại có lần cô bạn tôi kể: Cô cùng đi với người yêu vào lễ Phủ Tây Hồ. Anh chàng không biết do ngổ ngáo hay do quá thật thà, khấn niệm: “Con lạy bà Chúa Liễu-Mẫu Nghi thiên hạ, cho con được ăn cùng nồi, ngủ cùng giường với cô gái đang đứng bên con…”. Anh dắt ta tôi đi khắp khuôn viên Đền Hùng. Rồi vào Đền thờ Mỵ Châu: Đập vào mắt chúng tôi là tượng Công chúa Mỵ Châu với xiêm y lộng lẫy, nhưng cụt dầu. Tôi thở dài. Anh bùi ngùi. Giọng anh mềm mại, nhưng kiên quyết: “Nhiều người ngợi ca mối tình Mỵ Châu – Trọng Thủy. Anh nghĩ khác. Đó là mối tình lừa đảo. Người bố Triệu Đà lừa đảo và truyền cái lừa đảo ấy cho con là Trọng Thủy. Khi Trọng Thủy ăn cắp lẫy nỏ thần, hắn biết quá rõ là hắn lừa đảo không chỉ Thục Phán mà cả Mỵ Châu, để thực hiện hành vi tồi tệ đó! Rồi anh trích đọc mấy câu thơ mà tôi không biết thơ ấy là của ai: “Yêu chi yêu lời cha hắn/Yêu chi yêu cây nỏ thần/Còn bày đặt cái trò “lông ngỗng”/Làm mẹo lừa tình hay làm kế sát nhân?...”.Tôi cãi: “Nhưng cuối cùng Trọng Thủy cũng nhảy xuống giếng tự tử mà chết vì tình, đó sao!”. “Không, đó là cái chết ân hận vì tội lỗi, chứ không phải là chết vì tình yêu! Chẳng qua là người đời nhân hậu mà thêu dệt thành chuyện tình yêu của họ như thế! Tôi thật bất ngờ, bởi chính Trung tâm văn hóa của tôi đã có lần tổ chức sinh hoạt ca ngợi “Mối tình Mỵ Châu-Trọng Thủy”, nên“cãi” lại anh, nhưng sau khi anh nói, tôi không còn bấu víu được chút lý lẽ nào để có thể bảo mối tình ấy! Chúng tôi không hòa vào đi chung với một đoàn nào đó, để nghe hướng dẫn viên giới thiệu, mà đi riêng , bởi chính anh là người hướng dẫn, giới thiệu riêng cho tôi và chúng tôi tiếp cận hầu như tất các điểm của Khu Đền. Tôi được anh truyền đạt hầu như tất cả những gì cần biết về Đền Hùng, nói đúng hơn là về buổi đầu dựng nước. Chúng tôi ra về tuy hơi mệt, nhưng rất vui về một chuyến đi thật mỹ mãn! Từ Đền Hùng về đến Hà Nội, trời đã hoàng hôn, anh rủ tôi đi ăn cơm tối ở cửa hàng ăn đặc sản, nhưng tôi cảm ơn và từ chối, vì lý do “về muộn sợ mẹ mắng”. Anh mở cửa, dắt tay tôi bước xuống xe. Chúng tôi trao nhau nụ hôn chia tay thật nồng nàn, anh đưa tôi một tấm Postkarte đặt trong một phong bì màu hồng, Rồi giơ tay vẫy tôi: “Bye em!”. Tôi giơ tay đáp lại: “Bye anh!”. Khi chiếc xe của anh vừa chuyển bánh, không ghìm được tò mò, tôi ghé vào quán nước bên đường, vội mở xem tấm thiếp thư mà anh vừa trao, thì đó là một bài thơ viết tay chữ rất đẹp, có tựa đề: “Mắt cười”(Yêu mến tặng Giang): Miệng cười: / Đã ngất ngây đời / Mắt cười: / Thêm nữa đất trời ngả nghiêng! / Gửi hồn vào cõi em riêng / Gửi thơ vào cõi yêu thiêng: / Mắt cười… Vậy là anh bắt đầu tìm thấy tôi trong mắt cười của tôi như tôi gặp anh trong miệng cười của anh vậy! * * * Vĩ thanh: Tuần trước, cha mẹ anh sang nhà tôi đưa lễ chạm ngõ. Bốn vị “lão thành” chuyện trò vừa trân trọng, vừa hân hoan. Tôi hiểu họ rất hài lòng về chúng tôi và bộc lộ niềm vui hể hả. Tôi và anh từ nay mỗi người có thêm hai cha mẹ nữa. Các “lão thành” bàn nhau về lễ hỏi, lễ cưới, lệ đón dâu, lễ lại mặt…Tôi và anh như là “dự thính viên” thường được hỏi ý kiến: “Ý anh Hải thế nào?”. “Ý chị Giang ra sao?”…Tôi thấy lòng mình xao xuyến, nhận ra rằng, mình sắp có một cuộc sống mới vừa vui, vừa lo, nhưng nói chung là cảm thấy hạnh phúc đang đến với mình. Ngày không xa, tôi sẽ có một người chồng thật sự vừa lòng, không phải vì gia đình và bản thân Hải có đời sống kinh tế, mà chính trí tuệ và tâm hồn anh là một kho văn hóa vô giá, không phải ai cũng có được! Bạn bè gặp gỡ chia vui với tôi trước ngày cưới. Lam Nhiên, một nữ họa sĩ - bạn rất thân của tôi, được tôi kể cho nghe về chuyện tình yêu của chúng tôi bắt đầu từ chuyến đến với Hội Lim, cô cười và phán một câu xanh rờn: “Tình yêu màu quan họ”. “Là họa sĩ, nên cậu nhìn cái gì cũng ra màu sắc! – tôi đáp lời bạn. Lam Nhiên tiếp: “Tớ sẽ trang trí phông lễ cưới của các cậu hình ảnh của Hội Lim quan họ! Tôi mỉm cười, gật đầu: “OK”! Từ ngoài, vọng vào tiếng còi ô-tô của Hải đến đón tôi đi chụp ảnh và mua sắm cho ngày cưới của chúng tôi. Bên ngoài, nắng xuân mềm mượt rải hạt ấm xuống thềm và những chậu cây kiểng lấm tấm lộc non… Đầu xuân Giáp Ngọ (2014)

TÌM EM TRONG NGUYÊN TIÊU

TÌM EM TRONG NGUYÊN TIÊU Tìm em trong Nguyên Tiêu Nghe hồn reo rạo rực Nghe hổn hà lồng ngực Nghe con tim phập phồng Tìm em trong phiêu bồng Nghe lời thơ bay bổng Nghe lòng mình thấp thỏm Nghe bước chân chềnh chàng Em hướng Tây đi sang Anh hướng Đông vòng lại Từ Khuê Môn em tới Từ Giếng Thơ anh vào Tìm nhau trong thanh cao Tìm nhau trong nguyên khí Tìm nhau trong thi trí Tìm nhau trong thi tình Đây rồi, anh đã gặp mình Yếm âu đôi mắt, bồng bềnh thi nhân Cầm tay em, dạ lâng lâng Cùng nhau nhập bước – bàn chân gọi mời Ngắm em, say…ánh mắt cười. Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội, Trưa 15 tháng Giêng – Giáp Ngọ

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

VALENTINE - MỘT NGÀY...(Thơ cho những người đang yêu)

Sáng ngày ra Anh trao em Hộp sô-cô-la Ngọt ngào quyến rũ Trưa nắng hồng Anh dắt em Lên vòm tháp cũ Phiêu diêu Gió thổi ngọt ngào Nắng trưa thả vàng hanh hao Anh đưa em vào màu xanh cây trái Chậm rãi Chiều về Ta dãi dề ven đê Hương cỏ mật Tỏa mùi thơm Ngọt ngào đầu lưỡi Đêm về Men tình bổi hổi Dìu nhau Lên đỉnh thiêng liêng Trời bung biêng Đất chung chiêng Ngất ngây Hà hển Chao nghiêng Nuỗng nà... Tình ơi, ơi hỡi, ơi à!

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

HAI BÀI THƠ XUÂN

CHỢ LÀNG Chợ làng: Cũng thịt cùng rau Cũng cua cùng cá Cũng cau cùng trầu… Ai vô siêu thị cao lầu Riêng ta vẫn cứ chợ Cầu, chợ Đê! Mình ơi, giữ lấy chân quê Đừng ham phố thị mà chê chợ làng! Bán mua nhu nhã, khẽ khàng Mà vui cái bụng, mà nhàn cái thân Chợ làng rộn rạo vào xuân… CẢM NHẬN MÙA XUÂN Ta đi trong mùa xuân Nghe mai vàng nảy lộc Ta đi trong mùa xuân Nghe lời yêu thẽ thọt Ta đi trong mùa xuân Nghe tiếng đàn dịu ngọt Ta đi trong mùa xuân Nghe đời đang rót mật Ta đi trong mùa xuân Nghe lòng ta chân thật Ta đi trong mùa xuân Nghe sinh sôi vạn vật…

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

BÀI THƠ "KHÚC VỌNG QUÊ XƯA" CỦA HƯƠNG GIÓ




Hương Gió có tên khai sinh là Đào Thị Liên, hiện là giáo viên tiểu học tại tỉnh Vĩnh Phúc. Dạy học và làm thơ là niềm vui song hành của Hương Gió: Dạy giỏi là một điều kiện để làm thơ hay; ngược lại, làm thơ hay là tạo thêm điều kiện để dạy giỏi. Thơ Hương Gió nồng nàn trong cảm xúc đối với người thân trong gia đinh và quê hương; rộng ra là, đối với con người và cuộc sống, nói chung. Hình tượng thơ Hương Gió  không dừng lại ở tác động trực quan mà đi sâu vào gián cảm sâu thẳm nơi tâm hồn người đọc, khiến người đọc phải rúng động đến bất an và thiết thao đến nông nỗi!
Cách thể hiện trong thơ Hương Gió bao gồm hình tượng thơ độc đáo; ngôn từ có sức gợi cảm mạnh mẽ; vần điệu chuẩn luật; thanh âm uyển chuyển, mượt mà...
"Khúc vọng quê xưa" là bài thơ mang đặc trưng đáng kể của thơ Hương Gió. Xin giới thiệu bài thơ cùng bạn đọc:

KHÚC VỌNG QUÊ XƯA
 Măng còm nép dưới bờ đê
Gió khan vò tóc hàng tre rối bời
 Bồ không đợi thóc tháng mười
 Mái thưa nhạt thếch nụ cười tháng ba
 Trọc đồi tháng bảy trông ra
 Bãi sông trắng cát cải hoa thót ngồng
 Lom rom lúa chửa nhô đòng
 Dội cơn mưa đá thối đồng trơ rơm
Bốn người chia một lưng cơm
 Bát canh củ chuối mẹ đơm chát lòng
 Thương cha tát nước mẻ sòng
 Tướp tưa tay chị đãi dòng mò cua
 Quê nghèo nước mặn đồng chua
Chuột vâu bỏ hốc vái chùa xin ăn
 Trung thu méo xẹo mặt trăng
 Tò he lăn lóc nhện giăng mạng dày
 Dải khoai héo vắt vai gầy
 Cào cào giã bóng mặt mày xanh xao
 Trơ xương cá gục bờ ao
 Củ khoai mẹ gói con chào đi xa
 Mấy mươi năm thoắt trôi qua
 Đổi thay hình bóng quê nhà khác xưa
 Tre ngà gội tóc chiều mưa
 Võng ru êm khúc đòng đưa măng tròn
 Cô em phơi thóc xinh giòn
 Bội thu mùa gặt rạ còn vương đê
 Trung thu trăng ngập đường quê
 Tùng rinh tiếng trống vọng về ngày thơ.
 Bài thơ thể hiện cảm xúc về quê hương với hai ý tưởng lớn: Nỗi buồn về cảnh đói nghèo xưa kia và niềm vui đổi thay hôm nay. Ý tưởng như thế về quê hương đã không ít người đề cập. Song, điều đáng nói ở đây là cách đề cập thế nào - nói cách khác, đó là thi pháp mà nhà thơ sử dụng ra sao?
Trước hết, đó là hình tượng "các nhân vật" trong bài thơ là những người thân của chính tác gỉả hiện lên như là chân dung tượng trưng cho nỗi khổ cực: Chỉ một lưng cơm mà phải chia nhau cho bốn người! Bát canh củ chuối chát hay chính lòng mẹ chát khi đơm cho người thương yêu của mình? Cái gầu sòng bị mẻ hay chính cái sức lực của cha bị "mẻ" bởi đằng đẵng tháng ngày tát nước? Bàn tay  của chị  tướp tưa  bởi suốt ngày bắt ốc mò cua dưới nắng đồng gay gắt...Và rồi, cái nỗi đau xa xứ vì miếng cơm manh áo đã xảy ra - điều khá phổ biến ở nông thôn Việt Nam vào thuở ấy:
                Củ khoai mẹ gói con chào đi xa


Cái cách miêu tả của Hương Gió về một làng quê xơ xác đạt đến mức não lòng! Những gì của quê làng đều bị xiêu vẹo, méo mó, biến dạng không còn như chính nó: Ngay tháng mười mà bồ cũng không có thóc; hoa cải bên sông là hình ảnh phổ biến của làng quê, thế nhưng bên bờ sông chỉ còn là cát trắng; ngay cả đến con chuột cũng phải hang ổ mà đi; rồi đến trăng trung thu cũng không tròn, trò chơi trung thu cũng bị nhện chăng lăn lóc; rồi nữa, con cá dưới ao cũng gầy trơ xương, bởi nó cũng đói như người vậy!
Bài thơ sử dụng thi từ-thi ngữ thật tuyệt vời: Những "măng còm", "gió khan", "lom rom" xác xơ", "méo xẹo", "lăn lóc", thót ngồng... Nhiều lắm,không kể hết!

Dạng thơ lục bát truyền thống được nhà thơ thể hiện chuẩn luật, thanh âm mượt mà trầm bổng được sử dụng uyển chuyển trong luật trắc-bằng...
Ở phần nói về niềm vui hôm nay, cũng với thi pháp như trên,nhưng nhằm vào ý tưởng ngược lại - ý tưởng đổi thay của quê làng, nhà thơ đưa tới một người đọc một niềm vui đến nao lòng:
Tre ngà gội tóc chiều mưa
Võng ru êm khúc đòng đưa măng tròn
Cô em phơi thóc xinh giòn
Bội thu mùa gặt rạ còn vương đê
Trung thu trăng ngập đường quê
Tùng rinh tiếng trống vọng về ngày thơ.
Cảm ơn Hương Gió và chúc mừng nữ thi sĩ về "Khúc vọng quê xưa" - một bài thơ hay! Độc giả mong được đọc nhiều bài thơ hay hơn nữa của Hương Gió!



VỀ BỐN TẬP THƠ CỦA MAI THANH



         BÀI THƠ “ÁNH MẮT NGÀY XƯA”
           VÀ LỜI BÌNH
                                                                      HÀ KHOA
Yêu em từ độ xuân thì
Dung nhan thuở ấy còn gì nữa đâu!
Muối tiêu rắc trắng mái đầu
Nếp nhăn vầng trán hõm sâu vai gầy
Phong trần biết mấy đổi thay
Chỉ riêng ánh mắt vẫn ngày xa xưa
Đời người biết mấy nắng mưa
Tình người vẫn thuở ngu ngơ... xuân thì.
     Khi được yêu, người con gái thu hút người con trai qua hình thể và tâm hồn. Dường như đôi mắt - một yêu tố hình thể có sức thu hút mạnh nhất, chả thế mà người đời hết lời tấm tắc về những "đôi mắt bồ câu", "đôi mắt lá liễu", "đôi mắt huyền nhung", đôi mắt biết cười"...Còn tâm hồn là vẻ đẹp bên trong của người con gái - vẻ đẹp đa dạng, ẩn sâu, nhiều khi khó nhận biết đối với nhiều người mà chỉ người yêu của cô ta mới có thể nhận biết được. Đó có khi là nết na ngoan hiền, có khi là đậm đà tình nữ, thậm chí, chỉ là giọng nói nhỏ nhẹ dễ thương...Một quy luật của khoa học tâm-sinh lý chỉ ra rằng: Vẻ đẹp bên trong nói trên - tâm hồn người con gái - được bộc lộ qua đôi mắt. Bởi vậy, nên mới có câu "Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn". Dù là đôi mắt đẹp (như trên đã nói) ngay cả đôi mắt không đẹp, thì vốn dĩ là đôi mắt, nên vẫn là cửa sổ của tâm hồn! Không ngạc nhiên gì khi đôi mắt gắn với tình khít khao đến thế, khiến văn chương-nghệ thuật, trong đó có thơ ca bám lấy đôi mắt. "ăn theo" đôi mắt mà tạo nên sản phẩm văn hóa-tinh thần.
     Cũng vậy,"Ánh mắt ngày xưa" không nói nhiều về cái đẹp của đôi mắt, mà nhấn mạnh tính "vững bền tình yêu" của đôi mắt. Dung nhan người con gái qua phong trần năm tháng đã tàn phai, "Muối tiêu rắc trắng mái đầu" / Nếp nhăn vầng trán hõm sâu vai gầy", nhưng "Chỉ riêng ánh mắt vẫn ngày xa xưa". Ở đây là "ánh mắt", chứ không phải là "đôi mắt"! Thật sự, là bộ phận cấu thành của cơ thể, đôi mắt vẫn phải già đi, khác xưa là tất yếu, nhưng "ánh mắt" thì hoàn toàn nguyên vẹn.Sự tinh tế của ngôn ngữ thơ là vậy đó!
     Hai câu thơ kết luận trong cách so sánh giữa đời người và đời tình, một lần nữa, cũng là khẳng định sự bất biến của tình yêu:
                                     Đời người biết mấy nắng mưa
                                     Đời tình vẫn thuở xa xưa xuân thì
     Bài thơ ngắn gọn-xúc tích, bộc lộ một trạng thái tình yêu có tính quy luật: Khi tình yêu lứa đôi thực sự được xác lập, thì tình yêu ấy neo giữ suốt cuộc đời của đôi trai gái. Điều nhân văn ấy đã được thể hiện trong văn chương –nghệ thuật từ đông sang tây từ cổ chí kim, theo cách nói dân gian “tình cũ không rủ cũng đến” và dẫu nhiều bất thuận trong xã hội đương thời, nàng Kiều sau 15 năm lưu lạc, vẫn tái hồi cùng chàng Kim, gắn nối lại mối tình nảy sinh từ  buổi đầu gặp gỡ trong “ngày xuân con én đưa thoi” chứa chan tình yêu nồng thắm!
    
    

 
Lá xưa triệu năm hóa thạch
Lá thơm trang sách học trò
Lá vàng thu rơi xào xạc
Lá mầm nhú bút non tơ
Lá thông hình kim mũi nhọn
Lá bàng xòe rộng bàn tay
Lá xương rồng dầy và cứng
Lá quế vừa ngọt, vừa cay
Lá khoai đỡ lòng khi đói
Lá cọ che ấm lưng đồi
Lá muồng ngủ khi chờ tối
Lá thơm anh trải em ngồi

Dù muôn vẻ, lá đều là lá
Vẫn đã một lần mang sắc xanh tươi
Dẫu đến độ xám đen màu đá
Nhớ mãi một lần sắc thắm, Người ơi!

Bài thơ "Sắc lá" thuộc dòng thơ triết lý xã hội-nhân văn, gồm 4 khổ với 16 câu. Ở 3 khổ với 12 câu trên, nói về tính chất, đặc điểm của nhiều loại lá - ngầm ý là con người với cuộc sống muôn vẻ, từng có một thời kỳ rực rỡ như màu xanh của lá! Khổ cuối cùng với 4 câu nói về cuối đời của lá: Lá vốn là màu xanh, nay chuyển thành màu xám đen của đá, vẫn nhớ mãi một thời lá thắm xanh - ngầm ý về niềm tự hào của con người, khi đã ngả về phía bên kia của cuộc đời, vẫn không quên thời kỳ rực rỡ, đậm đà ý nghĩa truyền thống của mình! Bài thơ với 4 câu thơ cuối cùng còn đưa ra một thông điệp rằng, ở thời kỳ thanh xuân hãy sống cuộc đời rực rỡ xanh như màu xanh của lá, để đến cuối đời, nhìn lại đoạn đời đã đi qua mà tự hào, mà kiêu hãnh! Mở rộng một chút: Bài thơ gợi nhớ câu nói nổi tiếng trong cuốn tiểu thuyết xô-viết "Thép đã tôi thế đấy: "Con người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho ra sống, để khi nhắm mắt, xuôi tay không ân hận với những ngày đã sống phí, sống thừa...".
Bài thơ kết cấu chặt chẽ, hình tượng thơ tập trung; thơ theo khổ 4 dòng, mỗi dòng 6 chữ; vần điệu đúng luật và giọng thơ trầm bổng - uyển chuyển, gợi cảm hứng âm thanh đáng kể!




                                                                                    HÀ KHOA
Những kỷ niệm về Mẹ là phổ biến và lâu bền, nhất là những khi bắt gặp yếu tố tác động nào đó, thì những kỷ niệm ấy lại dội vô cùng thao thiết!
"Tiếng chim chích chòe" là bài thơ với ý nghĩa như vậy! Con chim chích chòe cất tiếng bên cửa sổ - nơi nhà thơ làm việc - như là yếu tố tác động vào nỗi nhớ Mẹ vẫn neo đậu day dứt trong tâm hồn nhà thơ. Đó là "Tiếng chim ngọt ngào gọi tuổi thơ xưa"; rồi từ tiếng chim đó, bức tranh về làng quê, về Mẹ hiện lên rõ rệt. Ấn tượng nhất là hình ảnh Mẹ lam lũ, cực nhọc suốt đời:
Mẹ còng lưng những tháng năm nhẫn nại
Để mùa về vợi bớt những âu lo
Hình tượng con sáo sậu kiếm mồi, con cá bống lạc đàn làm đâm nét thêm cho nỗi cực nhọc kia của Mẹ. Nỗi cực nhọc có từ nguyên nhân của cái đói quanh năm âu lo vì nó; Mẹ phải còn lưng nhẫn nại để khả dĩ bớt nỗi âu lo trong mấy ngày mùa...Dường như nhà thơ cảm nhận cái đói ấy bám riết cuộc đời mình đến tận bây giờ và nghĩ con chim chích chòe kia như người đang đói, nên vỗ về con chim nhỏ:
Chích chòe ơi, nhặt vài con sâu nhỏ
Như ngày xưa nơi vườn cũ kiếm tìm...
Ở đoạn thơ cuối cùng, tiếng chim chích chòe với những từ ghép "chập chờn", "thao thức", "rạo rực" biểu lộ trạng thái tình cảm của nhà thơ đã quá khứ, đang hiện tại và sẽ tương lai mãi mãi gửi hồn mình về bên Mẹ - nơi vườn xưa xanh thắm, thấp thoáng rặng cây thưa.
Bài thơ bộc lộ tình cảm thật sự chân thành với giọng điệu thiết tha đầy hoài niệm; hình tượng thơ giàu sức gợi nhớ; lời thơ mượt mà; điệu thơ êm ả..., nên dễ gây xúc động đối với người đọc.




                                                      HÀ KHOA
Ngẫm ra mới thấu Cõi người:
Râm ran tiếng khóc, tiếng cười xen nhau
Bao giờ đời hết khổ đau:
Để cho muôn nẻo chen nhau tiếng cười

Bao giờ đời thực là Đời
Để cho muôn nẻo bời bời tiếng vui...

Hai ý tưởng cơ bản hàm chứa trong "Cõi người":
Một là, thực trạng khách quan của cuộc đời, của cõi người bao gồm hai mặt là tiếng khóc và tiếng cười, nghĩa là khổ đau và sung sướng. Đó như là quy luật tồn tại với hai mặt đối lập của của sự vật:
Ngẫm ra mới thấu Cõi người:
Râm ran tiếng khóc, tiếng cười xen nhau
Hai là, ý niệm về một cuộc đời, về một cõi người tốt đẹp: Ở đó, không còn là "xen" nhau của hai tiếng khóc-cười, mà chỉ có tiếng cười "chen" nhau:
Bao giờ đời hết khổ đau:
Để cho muôn nẻo chen nhau tiếng cười
Dường như chưa bộc lộ hết ý nguyện, bài thơ được tiếp thêm hai câu theo cách thể hiện tuy có khác, nhưng vẫn là ý nguyện trên, để ý nguyện ấy được khẳng định một cách chắc chắn hơn:
Bao giờ đời thực là Đời
Để cho muôn nẻo bời bời tiếng vui...
Đến đây, nảy ra một câu hỏi: Phải chăng, tác giả đã chủ quan, duy ý chí và viển vông, khi mong muốn cuộc sống, cõi người này chỉ còn tiếng cười?
Chính nhà thơ-tác giả "Cõi người" đã có lần giãi bầy như sau: Không phải thụ động một chiều, ý thức con người - trong trường hợp chúng ta đang bàn là ý nguyện, thông qua hành động tác động trở lại hiện thực - ở đây là cuộc sống, cõi người -, khiến hiện thực ấy biến đổi theo ý nguyện của chủ thể "Để cho muôn nẻo bời bời tiếng vui...". Thì đó, hoạt động văn chương -nghệ thuật với mục tiêu Chân-Thiện-Mỹ và các loại hình đồng dạng khác đang "tác động trở lại hiện thực" đó sao?
Thi ca càng như vậy, vịn vào lý lẽ nêu trên, nhà thơ bao giờ cũng chắp cho mình đôi cánh thi ca đế nâng cuộc đời, cõi người bay bổng lên tầm cao mơ ước!
Bài thơ ngắn gọn -xúc tích vừa mang tính triết luận, vừa mang tính trữ tình, nêu bật được hai mặt của vấn đề, với kết cấu mở, khiến người đọc suy ngẫm, động rung về nhận thức và cảm xúc, thậm chí trái chiều với ý tưởng bài thơ, đó là điều bình thường và cần thiết không chỉ của thi ca, mà của cả văn chương-nghệ thuật, nói chung.



Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

BÀI THƠ "CÕI NGƯỜI" VÀ LỜI BÌNH HÀ KHOA



Ngẫm ra mới thấu Cõi người:
Râm ran tiếng khóc, tiếng cười xen nhau
Bao giờ đời hết khổ đau:
Để cho muôn nẻo chen nhau tiếng cười

Bao giờ đời thực là Đời
Để cho muôn nẻo bời bời tiếng vui...

Hai ý tưởng cơ bản hàm chứa trong "Cõi người":
Một là, thực trạng khách quan của cuộc đời, của cõi người bao gồm hai mặt là tiếng khóc và tiếng cười, nghĩa là khổ đau và sung sướng. Đó như là quy luật tồn tại với hai mặt đối lập của của sự vật:
Ngẫm ra mới thấu Cõi người:
Râm ran tiếng khóc, tiếng cười xen nhau
Hai là, ý niệm về một cuộc đời, về một cõi người tốt đẹp: Ở đó, không còn là "xen" nhau của hai tiếng khóc-cười, mà chỉ có tiếng cười "chen" nhau:
Bao giờ đời hết khổ đau:
Để cho muôn nẻo chen nhau tiếng cười
Dường như chưa bộc lộ hết ý nguyện, bài thơ được tiếp thêm hai câu theo cách thể hiện tuy có khác, nhưng vẫn là ý nguyện trên, để ý nguyện ấy được khẳng định một cách chắc chắn hơn:
Bao giờ đời thực là Đời
Để cho muôn nẻo bời bời tiếng vui...
Đến đây, nảy ra một câu hỏi: Phải chăng, tác giả đã chủ quan, duy ý chí và viển vông, khi mong muốn cuộc sống, cõi người này chỉ còn tiếng cười?
Chính nhà thơ-tác giả "Cõi người" đã có lần giãi bầy như sau: Không phải thụ động một chiều, ý thức con người - trong trường hợp chúng ta đang bàn là ý nguyện, thông qua hành động tác động trở lại hiện thực - ở đây là cuộc sống, cõi người -, khiến hiện thực ấy biến đổi theo ý nguyện của chủ thể "Để cho muôn nẻo bời bời tiếng vui...". Thì đó, hoạt động văn chương -nghệ thuật với mục tiêu Chân-Thiện-Mỹ và các loại hình đồng dạng khác đang "tác động trở lại hiện thực" đó sao?
Thi ca càng như vậy, vịn vào lý lẽ nêu trên, nhà thơ bao giờ cũng chắp cho mình đôi cánh thi ca đế nâng cuộc đời, cõi người bay bổng lên tầm cao mơ ước!
Bài thơ ngắn gọn -xúc tích vừa mang tính triết luận, vừa mang tính trữ tình, nêu bật được hai mặt của vấn đề, với kết cấu mở, khiến người đọc suy ngẫm, động rung về nhận thức và cảm xúc, thậm chí trái chiều với ý tưởng bài thơ, đó là điều bình thường và cần thiết không chỉ của thi ca, mà của cả văn chương-nghệ thuật, nói chung.



BÀI THƠ “TIẾNG CHIM CHÍCH CHÒE” VÀ LỜI BÌNH - HÀ KHOA



Không phải tiếng họa mi gượng hót trong lồng
Không phải tiếng cúc cu vô tâm từ đồng xa vọng lại
Mà chính tiếng lòng nhớ về xa ngái:
Tiếng chích chòe bên cửa sổ phòng ta
Tiếng chim ngọt ngào gọi tuổi thơ xưa:
Bầy cà cưỡng kiếm mồi trên luống cày đất bãi
Mẹ còng lưng những tháng năm nhẫn nại
Để mùa về vợi bớt nỗi âu lo
Sông Cầu Chầy nuôi con sóng ngu ngơ
Đàn bống nhỏ lạc bầy mùa nước lũ
Chích chòe ơi, nhặt vài con sâu nhỏ:
Như ngày xưa nơi vườn cũ kiếm tìm...

Dĩ vãng chập chờn chở nặng tiếng chim
Mà hiện tại mãi còn thao thức
Rồi mai đây vẫn còn rạo rực
Tiếng chích chòe xanh vườn Mẹ ban trưa
Bóng chích chòe thấp thoáng rặng cây thưa

Ơi chích chòe
Ôm ấp tuổi thơ xưa...

                                      *
                                   *     *
Những kỷ niệm về Mẹ là phổ biến và lâu bền, nhất là những khi bắt gặp yếu tố tác động nào đó, thì những kỷ niệm ấy lại dội vô cùng thao thiết!
"Tiếng chim chích chòe" là bài thơ với ý nghĩa như vậy! Con chim chích chòe cất tiếng bên cửa sổ - nơi nhà thơ làm việc - như là yếu tố tác động vào nỗi nhớ Mẹ vẫn neo đậu day dứt trong tâm hồn nhà thơ. Đó là "Tiếng chim ngọt ngào gọi tuổi thơ xưa"; rồi từ tiếng chim đó, bức tranh về làng quê, về Mẹ hiện lên rõ rệt. Ấn tượng nhất là hình ảnh Mẹ lam lũ, cực nhọc suốt đời:
Mẹ còng lưng những tháng năm nhẫn nại
Để mùa về vợi bớt những âu lo
Hình tượng con sáo sậu kiếm mồi, con cá bống lạc đàn làm đâm nét thêm cho nỗi cực nhọc kia của Mẹ. Nỗi cực nhọc có từ nguyên nhân của cái đói quanh năm âu lo vì nó; Mẹ phải còn lưng nhẫn nại để khả dĩ bớt nỗi âu lo trong mấy ngày mùa...Dường như nhà thơ cảm nhận cái đói ấy bám riết cuộc đời mình đến tận bây giờ và nghĩ con chim chích chòe kia như người đang đói, nên vỗ về con chim nhỏ:
Chích chòe ơi, nhặt vài con sâu nhỏ
Như ngày xưa nơi vườn cũ kiếm tìm...
Ở đoạn thơ cuối cùng, tiếng chim chích chòe với những từ ghép "chập chờn", "thao thức", "rạo rực" biểu lộ trạng thái tình cảm của nhà thơ đã quá khứ, đang hiện tại và sẽ tương lai mãi mãi gửi hồn mình về bên Mẹ - nơi vườn xưa xanh thắm, thấp thoáng rặng cây thưa.
Bài thơ bộc lộ tình cảm thật sự chân thành với giọng điệu thiết tha đầy hoài niệm; hình tượng thơ giàu sức gợi nhớ; lời thơ mượt mà; điệu thơ êm ả..., nên dễ gây xúc động đối với người đọc.


                                              









Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

TÂY HỒ MÙA YÊU

Gió Tây Hồ hây hẩy Nước Tây Hồ lăn tăn Ngực nước dãn căng Khói mây hổn hển Đây Đền Đức Ông Kia Chùa Trấn Quốc Miếu Hai Cô nghi ngút hương thiền Ta trà trộn cung tiên Ta đồng hòa thiên cảnh Mùa yêu Cõi Phật chiều Người Diết da Thực phồn Yếm âu Tình mộng Trời khuya Nghe lòng xao động Đất trời bị rịn vào xuân Ta giữa sinh luân Ngực nở Môi hồng Vòng tay đon đả Đón em vào giấc mộng phiêu diêu nghe hổn hà trong hơi thở mùa yêu.

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

CÓ TRỞ VỀ CHỐN CŨ KHÔNG EM?

Em có trở về chốn cũ không em? Tìm lại những gì tháng năm đã khuất Một bóng đa làng soi mình giếng nước Nghe tiếng trao tình thỏ thẻ thâu đêm Em có về chốn cũ không em? Đi lại đường xưa dẫn ta về xóm nhỏ Còn đứng đó cổng làng muôn thuở Như chứng nhân cho sức sống lâu bền Em có về chốn cũ không em? Tìm khói lam chiều trong bồi hồi mái rạ Tiếng võng đưa giọng ru hời một thuở Bao trẻ làng từ tiếng võng đi lên Em có về chốn cũ không em? Nơi tiên tỏ ông bà an nghỉ Lòng thành kính của lớp người hậu thế Gửi lòng thành vào thăm thẳm cõi tiên Em có về chốn cũ không em? Tìm lại vết chân của ngàn đời miên viễn Vẫn còn đó – không có gì ảo huyễn Những bước chân sớm tối đi về... Em nhòe về chốn cũ, em nghe! Để gặp lại ta một thời xuân sắc Để đón ánh trăng giữa trời vằng vặc: Mà hổn hà, háo hức thâu đêm... Em có về chốn cũ không em?

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT TRÀN ĐẦY CHẤT THƠ CỦA NGỌC THANH - Mai Thanh

Phạm Thị Ngọc Thanh sinh năm 1984, tại Yên Bái. Hiện đang dạy học ở Hà Nội, chị là cộng tác viên của nhiều tờ báo và nhà xuất bản. Cho đến nay, ngoài những ...tác phẩm thơ văn đăng trên báo giấy và trên diễn đàn internet, Ngọc Thanh đã cho ra mắt bạn đọc tác phẩm thơ “Trổ bông” (2012), tác phẩm tản văn “Hình hài của gió”(2013).Tiểu thuyết “Ba bước tới mặt trời" (NXB Quân đội nhân dân - 2013) mới “ra lò”, còn thơm mùi sách mới.Cuốn tiểu thuyết dày 200 trang, gồm 40 chương, đang được đông đảo bạn đọc quan tâm, với nội dung phong phú, cách thể hiện độc đáo: 1. Thuộc đề tài học sinh-sinh viên, đề cập đến tình yêu tuổi học trò ở một trường phổ thông trung học tại tỉnh Yên Bái, với nhiều mối tình khác nhau: Có mối tình hồn nhiên, ngộ nghĩnh, có mối tình táo bạo, chiếm lĩnh thêm phần vụ lợi, có mối tình tay ba. Song, thơ mộng, hoài niệm, thiêng thiêng, trong sáng – và cũng là sợi chỉ đỏ, là điếm nhấn của tiểu thuyết – là mối cảm tình đặc biệt của cô học trò cùng thầy giáo dạy môn vật lý của cô. Giữa hai thày trò có mối quan hệ của tuổi trẻ khác giới, đó chưa phải là tình yêu, mà là tình thầy trò, tình đồng chí - vì hai người cùng là cán bộ Đoàn thanh niên của trường. Tốt nghiệp phổ thông trung học, cô học trò về Hà Nội, học trường đại học. Sự xa cách thầy trò dường như là lý do để tình yêu của họ phát triển. Với những bức thư gửi kèm theo những bài thơ, cùng những trang nhật ký viết về nhau và cho nhau, tuy giữa họ chưa một lần ngỏ lời, nhưng hầu như họ đã thuộc về nhau. 2. Một cách khéo léo, tiểu thuyết đưa người đọc tiếp cận với nỗi đau mất mát, hy sinh của những người lính nói riêng và của lực lược vũ trang nói chung trong kháng chiến chống xâm lược. Đó là hình ảnh một bà già khi tỉnh, khi điên, bởi bà đã chờ đợi suốt đời một người lính trẻ. Anh là một chiến sĩ đã hy sinh cách nay gần nửa thế kỷ, nhưng bà vẫn coi người tình của của minh còn sống và còn luôn trẻ qua biểu hiện hằng ngày bà giở ra những tấm ảnh của anh để ngắm nhìn và những trang nhật ký bà viết về anh để đọc. Đó còn là một chiến sĩ công an – cũng chính là người cha thân yêu của nhân vật chính Hạ Lan - hy sinh trong một đêm truy lùng tội phạm, để lại người vợ trẻ và đứa con gái thơ dại... Dưới hình thức kể lại, chứ không phải miêu tả trực tiếp về những chiến sĩ bộ đội và công an, Ngọc Thanh gây biết bao nỗi xúc động đối với bạn đọc trên từng trang viết của chị. Ngày nay, trên diễn đàn văn chương, bạn đọc ít gặp những những trang viết về nỗi đau hy sinh và mất mát ấy! Vậy nên, những trang viết trên đây của Ngọc Thanh quả thật vô cùng trân trọng và hết sức đáng nể. 3. Tiểu thuyết "Ba bước tới chân trời" có yếu tố huyễn tưởng được coi như là một phương pháp thể hiện (chỉ ở một phần, chứ không phải ở toàn bộ cuốn tiểu thuyết), kể rằng: Trong một chuyến đi chơi rừng cùng các bạn sinh viên, Hạ Lan bị lạc giữa rừng đêm. Bỗng xuất hiện hai đứa trẻ, con người gác rừng chỉ lối cho Lan. Sau đó, hỏi ra, thì hai đứa trẻ chính là hai hồn ma, bởi chúng đã chết cách đó mười năm rồi. Chờ đợi lời hứa của người mẹ, hằng đêm hồn ma hai đứa trẻ hiện thành người trở lại khu rừng để mong được mẹ đón. Với câu chuyện huyễn tưởng này, tác giả muốn đưa ra ý tưởng về tinh thần thiêng liêng của một lời hứa: Người hứa phải biết giữ lời; người được hứa hãy biết đợi chờ lời hứa. Liên hệ với hai nhân vật Hạ Lan và thầy Hưng: Họ đã hứa hẹn sẽ gặp lại nhau. Đó là điều mà tác giả trao niềm hy vọng cho các nhân vật và cũng là niềm hy vọng gắn kết tinh thần nhân văn của chính tác giả trước kiếp người, trước cuộc đời. Về yếu tố huyễn tưởng này, tham khảo những kết quả nghiên cứu gần đây về tiềm năng con người, về thế giới vô hình và về không gian vi tế (Tham khảo: Nguyễn Tiến Đích – “Âm - Dương và cuộc sống đời thường” – NXB Thông tin-Truyền thông), ban đọc có thể suy ngẫm về những điều xa hơn về một phương pháp sáng tác. Phải chăng, đó là cách tác giả gọi mời độc giả "đọc thêm" những gì ngoài tác phẩm? 4. Chất thơ trong tiểu thuyết cũng là một trong những yếu tố khiến người đọc bị lôi cuốn trên từng trang sách. Ta đã biết đến chất thơ trong văn đã nhiều, chẳng hạn, trong “Trung thu độc lập đầu tiên”, trong “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới... Chất thơ trong tiểu thuyết của Ngọc Thanh thể hiện ở hình thức diễn đạt như lời văn dịu dàng, ngọt ngào, chỗ trầm, chỗ bổng bởi các ngôn từ hợp nhịp, hợp thanh; qua những bài thơ, những trang nhật ký ngọt ngào trên trang viết; qua những trang văn khi rực rỡ sắc vàng của loài hoa osaca, qua âm thanh thầm thì của miền đồi rừng sơn cước... Hơn thế, và khác xa những gì ta đã biết về chất thơ trong văn, chất thơ của “Ba bước tới chân trời” còn chứa đựng ngay trong đề tài và nội dung tiểu thuyết. Đề tài học sinh - sinh viên là một đề tài thắm đậm chất thơ, bởi tuổi trẻ là mộng mơ mà mộng mơ là đôi cánh để thi ca bay bổng. Tình yêu và tình bạn trong tiểu thuyết cũng đầy chất thơ, đặc biệt là mối cảm tình của hai người trẻ khác giới là Lan và Hưng... Suy rộng ra, cả những nỗi đau chia ly mất mát và niềm vui đoàn tụ, hoan sinh cũng là những bài thơ muôn vẻ của hai mặt cuộc đời! Làm được như vậy, bởi Ngọc Thanh là một tác giả thơ. Cũng có thể nói, tiểu thuyết "Ba bước tới mặt trời" là kết quả tự nhiên, là sự kết hợp tất yếu của tác phẩm thi ca "Trổ bông" và tác phẩm tản văn 'Hình hài của gió" của Ngọc Thanh. Như vậy, sẽ là rất tuyệt vời, nếu bạn đọc có trong tay "Ba bước tới mặt trời" - một cuốn tiểu thuyết về đề tài học sinh-sinh viên, nhưng nội dung vươn xa hơn rất nhiều so với những cuốn tiểu thuyết cùng đề tài ấy! Ở đây, có những mối tình muôn vẻ - trong đó, tình cảm của đôi bạn trẻ khác giới rất đỗi mơ mộng, thiêng liêng và trong sáng; có tình đồng học thiết thân, đa phong cách; có nỗi buồn mất mát của chiến tranh và tinh thần anh dũng, hy sinh của những chiến sĩ anh hùng; có phương pháp huyễn tưởng kể về người đã chết, nhưng vẫn tồn tại nơi cõi riêng của họ. Tiểu thuyết có kết cấu mở - không chỉ ở chi tiết huyễn tưởng, mà ở nhiều chi tiết khác, nhất là ở cái kết của tác phẩm - để khêu gợi suy ngẫm của độc giả như là cách đọc thêm; hơn thể như là người viết thêm tác phẩm vậy! Với cách đó, Ngọc Thanh đã sớm tiếp cận với phong cách của văn chương hiện đại ngay từ tiểu thuyết đầu tay này của mình. Chúc mừng tác giả Phạm Thị Ngọc Thanh về tiểu thuyết đầu tay “Ba bước tới mặt trời” – một bước ngoặt đáng kể trong quá trình sáng tạo văn chương! Mong chị tiếp tục cho ra mắt độc giả nhiều tác phẩm với chất lượng nghệ thuật cao hơn nữa!

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013

CÁI ĐẸP ƠI! (Tặng Kiều Trang)

Cái đẹp là cái đẹp ơi! Ta mang cái đẹp du chơi Ngân H� Bung biêng vũ trụ bao la Bồng bềnh cùng với nuột nà, nơi em! Ru hời cái đẹp siêu miên Hồn neo cõi nhớ, lim dim mắt cười... Nâng niu miệng đón, tay mời Êm êm khúc nhạc, bời bời mây trôi ... Cái đẹp là cái đẹp ơi! Ta mang cái đẹp đi chơi đồng làng Tay nâng nhành lúa óng vàng Nồng thơm đất ải, rộn ràng tiếng chim Ta tìm cái đẹp dịu êm Mộc chân bờ bãi mà nên hồn đời Tóc xanh, môi thắm, mắt ngời Hương đồng cỏ nội ngọt lời quê vui Cái đẹp là cái đẹp ơi! Ta mang cái đẹp về chơi vườn nh� Này hồng, này mít, này na Này hoa bách hợp, này là dạ lan... Xôn xao xanh - đỏ - tím - vàng Bầy ong dẫn lối, rộn ràng đường vui Ơi, người đẹp của ta ơi! Ta trao ai cả một trời ngàn hoa Ai là hồn của hồn ta Ta nâng khúc nhạc ngân nga gọi mời: À ơi...ơi hỡi...a ời!...

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

BẢN THẢO TẬP THƠ THỨ 7 CỦA MAI THANH

"Giọt bồi" là bản thảo tập thơ thứ 7 sau các tập "Ánh mắt ngày xưa", "Sắc lá", "Tiếng chim", Cõi người", "Trăng rơi", "Mùa sang" của Mai Thanh: Mai Thanh GIỌT BỒI NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN VÀO NHAU Dáng ngọc phiêu du đằm đêm mộng Nhưng hồn say đã quyện tơ lòng Đã ngây ngất trong tình thi xao động Một trời yêu ngút ngát mênh mông! Chiều nay nghe cơn mưa đưa đông Bàn tay háo tìm miền sâu thẳm Nghe run rẩy lời em văng vẳng Rạo rực anh căng sức trâu đồng... Bàn tay ham – bàn tay run run Chạm tới tận miền yêu ngây ngất Để không gian nghiêng trời đổ đất Để thời gian đằng đẵng mê say... Để hình rực cháy trong tay Để hồn thẫm chín trong cây thi tình Vào nhau Sâu thẳm, hỡi mình! Trao hồn nghiêng ngả Trao hình ngả nghiêng Ngại chi sự thế lụy phiền! THƠ EM Chưa gặp em một lần trong đời Chỉ đọc thơ em ngời ngời câu chữ Khi tiếng kêu than nghe lòng nức nở Khi gió gọi thu về nghe hồn phiêu diêu Khi nghe hè như lửa nồng thiêu Khi nghe xuân ngàn hoa đua nở Khi gọi ấm lòng người mùa đông... Thơ em thao thiết lòng Thơ em hồn day dứt Khi xốn xang như chim đồng ríu rít Khi não nề như chim vạc kêu đêm Thơ em như dòng chảy triền miên Đổ vào anh dạt dào con sóng vỗ... Thơ em trắng vàng xanh đỏ Thơ em mịn nhẵn gồ ghề Vẫn mãi vỗ về Ấp ủ hồn anh... CẢM XÚC THÁNG MƯỜI Tháng mười nghe trời chớm lạnh Tháng mười cơn bão đã yên Tháng mười ngày vui em đến Tháng mười - tháng Mẹ về Tiên... Tháng mười buồn vui xao xuyến Tháng mười nhiều chuyện không quên. NỒNG NÀN EM Dáng ngọc phiêu du đằm trong mộng Nhưng hồn say đã quyện tơ lòng Đã ngây ngất trong tình thi xao động Một trời yêu ngút ngát mênh mông! Chiều nay nghe cơn mưa đưa đông Bàn tay háo tìm miền sâu thẳm Nghe run rẩy lời em văng vẳng Rạo rực anh căng sức trâu đồng... Bàn tay ham – bàn tay run run Chạm tới tận miền yêu ngây ngất Để không gian nghiêng trời đổ đất Để thời gian mãi mãi hôm nay... CHẠM Mặt xa nhưng chẳng cách lòng Duyên tơ nên đã mặn nồng trong nhau Chạm rồi – chạm tới thẳm sâu Còn hơn nắm – ngại nhạt màu hoàng hôn... KHAO KHÁT EM Kể từ hôm ấy vào thu Trong anh mang mãi khúc ru gọi tình Khát khao! Anh khát khao mình! Hoa Sưa đưa lối anh tìm dấu chân Hồ yêu Cá có nổi tăm? Để cho điếu khách đăm đăm đợi chờ Đêm nay trăng tỏ hay mờ? Lòng anh khao khát Đón chờ trăng lên... CHÙM THƠ VỚI VĂN MIẾU 1. VÀO VĂN MIẾU Mỗi lần vào Văn Miếu Cái hồn lại thêm thơ Mỗi lần vào Văn Miếu Cái đầu vợi ngu ngơ Mỗi lần vào Văn Miếu Cái tâm bớt hững hờ... Miếu Văn: Từ bấy đến giờ Vẫn uy nghiêm Vẫn Cụ Rùa đội bia! 2. XIN CHỮ Ở VĂN MIẾU Ở Miếu Văn Từng đôi tình nhân vào xin chữ: Đôi này xin chữ “Ái”, chữ “Phu” Đôi kia xin chữ “Thê”, chữ “Lạc”... Tôi cô đơn trong nỗi buồn man mác: Lòng bùi ngùi xin hai chữ - tên em. 3. XEM THẢ THƠ Ở VĂN MIẾU Thơ người bay tít lên trời Thơ ta thủ thỉ trao lời cho nhau Thơ người hờ hững tầng cao Thơ ta nồng ấm bên nhau giữa Đời Thơ người triết lý bời bời Thơ ta chân mộc nói lời thương yêu... 4. THƠ TÌNH Ở VĂN MIẾU Miếu Văn ta đến với mình Thơ yêu nâng cánh cho tình đôi ta Từ thời “...nguyên khí quốc gia...”(*) Hẳn là thơ cũng ngân nga chữ tình? Miếu Văn ta đến với mình Ngất ngây nguyên khí, đẫm tình thi ca... ---------------------------------------- (*) Gợi nhớ lời văn bia của Tiến sĩ Thân Nhân Trung (1419 - 1499): “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. XA VÀ GẦN Xa thân nhưng chẳng xa lòng Xa nhau nhưng đã mặn nồng trong nhau Ảo tìm đến tận thẳm sâu Mà đi tới tận khát khao của tình Ai đưa Ta đến với Mình Ai đưa Mình đến gieo tình trong Ta Không ai! Chỉ bởi Mình - Ta Từ duyên tơ chắp cho Mình, cho Ta ... NỒNG NÀN EM Dáng ngọc phiêu du đằm trong mộng Nhưng hồn say đã quyện tơ lòng Đã ngây ngất trong tình thi xao động Một trời yêu ngút ngát mênh mông! Chiều nay nghe cơn mưa đưa đông Bàn tay háo tìm miền sâu thẳm Nghe run rẩy lời em văng vẳng Rạo rực anh căng sức trâu đồng... Bàn tay ham – bàn tay run run Chạm tới tận miền yêu ngây ngất Để không gian nghiêng trời đổ đất Để thời gian đọng mãi phút sinh phồn... Anh đi bên mình khi dè dặt nụ hôn Phút bỡ ngỡ khi bàn tay ve vuốt Khi tới đỉnh nâng tình yêu chót vót Là phút tình yêu òa vỡ sinh phồn Để cõi nhân sinh vạn thuở sinh tồn. THƠ TÔI Thơ tôi không đăng trên báo Thơ tôi không phát trên đài Thơ tôi lai rai Cùng người bạn tâm tình Nơi liêu xiêu quán cóc Cùng anh chàng làm nghề cắt tóc Cùng chú đánh giày Bên hẻm phố chiều đông Thơ tôi - mảnh ruộng đồng Gọi mời bàn chân đất Thơ tôi lời chân mộc Chia sẻ cùng nôm na Nệ gì thơ cao xa Cần chi thơ bay bổng Thơ tôi neo vào lòng: Bạn tri âm Anh cắt tóc Chú đánh giày Người chân đất Người nôm na Mặc ai vời vợi cao xa Thơ tôi vui hát ngân nga giữa đời. NGHỊCH LÝ Nơi trận mạc Gieo vào nhau cái chết Chốn y đường Giành giật mỗi mạng nhân Kẻ nghiện máu người Xưa nay có biết: Nghịch lý cuộc đời - nghịch lý nhân văn? (Viết từ Phòng khám Bệnh viên Quân đội trung ương 108) RƯỢU CẦN NGÀY XUÂN Tay vít cần rượu Nghe cỏ vào xuân Nghe lòng rân rân Nghe ong vào mật Nghe mưa lất phất Nghe chim vào mùa... Xa xa nghe tiếng chuông chùa Một con gió lạ ùa vào mâm xuân. VỀ QUÊ Về quê - lại về với Mẹ! Nghe tiếng ru hời âu yếm ngày xưa Về quê - lại về với tuổi thơ Cùng bè bạn thời chăn trâu - thổi sáo Về quê - lại về một thời đắm đuối Cùng cô gái làng bịn rịn tuổi hoa xuân Về quê - lại về cùng gió lộng, trăng ngân Bài thơ ngắn đầu tiên về đồng nước bạc Gặp lại Tổ Tiên dưới đồi thông bát ngát Thăm thẳm hồn Đời - linh tưởng Ông Cha: Có Ngài theo Lê từ thuở xưa xa Nếm mật nằm gai Lam Sơn tụ nghĩa Có Ngài viết câu thơ lộng hồn chí sĩ Có Ngài giúp quê làng bạt núi, khai sông... Về quê là thả hồn vào bát ngát mênh mông Ngực đón gió xuân nghe lời ca đồng vọng Rũ sạch bụi đường tha hương bề bộn Thao thiết cùng sông một thời "tắm trộm"(*) Mũi phập phồng mùi bánh đúc, bánh đa... Sông phù sa cho đồng bãi quê ta Trải bao nắng mưa dãi dầu năm tháng Vẫn nếp làng từ một thời xa vắng Mãi ngọt ngào ân nghĩa Ông Cha Ơi, Quê làng! Ơi, Làng quê ta! ------------------------------------------- (*)Tắm sông không xin phép cha mẹ. XUÂN SANG Ta reo vui khi xuân đang sang Chân lang thang đi trong mênh mang Nghe em ngân du ca thênh thang Nâng tay em tim ta xôn xang. LUẬT Luật pháp nói lời phép nước Luật đời nói lời muôn dân Luật thơ nói lời cảm xúc Luật nhạc nói lời tri âm Luật yêu nói lời gì nhỉ: Có phải nói lời con tim? Thêm nữa điều này, nghe em: Luật yêu thêm lời tức tưởi Bởi yêu khiến hồn nhức nhối Bởi yêu "chết ở trong lòng"(*). --------------------------------------------- (*)Mượn ý thơ Xuân Diệu: "Yêu là chết ở trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà đã được yêu". XUÂN EM Giọt sương long lanh Treo trên cành nhớ Lộc ươm xanh xanh Ngậm vành môi nở Gió thả tơ mành Gọi tình bên cửa Ai gieo ấp ủ Ươm hồn xuân ta? ĐI Từng bước đi chập chững Đến bước đi vững vàng Ta đi ra khỏi làng Ta đi xa khỏi nước Luôn nhìn sau, nhìn trước Chớ bỏ quên lối về... GIỌT BỒI Dòng sông quê nghèo không đủ phù sa Nên đất Mẹ thiếu màu xanh cho lúa Mẹ như cây cả một đời héo úa Đợi phù sa mang giọt mát cho đồng Qua mấy mùa phơi lưng bên sông Gom giọt phù sa cho bồi đất Mẹ Dòng sông chiều nhè nhẹ Anh nâng niu từng hạt bồi em Đắm hồn mình trong dáng Mẹ yêu thương Như dòng sông nghèo anh đi muôn phương Vẫn khát phù sa như cánh đồng quê Mẹ Dẫu đôi bờ sông - đời muôn vẻ Vẫn đợi bồi từ những giọt em: Anh từ thuở ấy không quên Để nên hoài niệm Trong anh... giọt bồi. VÔ ĐỀ Không là hội viên của hội nuôi ong Vẫn mật ngọt tràn đầy ngàn đõ Không là đội viên đội đua thuyền trên sông Vẫn ngạo nghễ vượt ngàn con sóng vỗ Không là hội viên của hội này, hội nọ Vẫn xôn xao bát ngát hương đời... Dẫu không... Mà vẫn... Hỡi người! THƠ NHƯ QUẢ CHÍN Thi tứ và thi từ Như quả thơm mới chín Ruột nồng nên thi tứ Vỏ thơm nên thi từ Không ruột sao nên trái? Không vỏ ruột sao thành? Quả ngon dâng hiến thơm lành: Thi từ - thi tứ kết vành thi hoa... CẢM XÚC THÁNG MƯỜI Tháng mười nghe trời chớm lạnh Tháng mười cơn bão đã yên Tháng mười ngày vui em đến Tháng mười - tháng Mẹ về Tiên(*)... Tháng mười buồn vui xao xuyến Tháng mười nhiều chuyện không quên! ------------------- (*)Tháng có giỗ Mẹ. CHỐN VỀ Chốn về thao thức người đi mãi Chiếc gió quạnh hiu ngủ dưới thềm Tia nắng cuối ngày nghiêng lối ngõ Dế còm kêu khúc nhạc sầu đêm. CHẠM (Gửi N.T.U) Mặt xa nhưng chẳng cách lòng Duyên tơ nên đã mặn nồng trong nhau Chạm rồi – chạm tới thẳm sâu Còn hơn nắm – ngại nhạt màu hoàng hôn. CAO NGUYÊN Cao nguyên thăm thẳm mây trời Rừng thơm náo nức nói lời yêu thương Tay người rót giọt T’rưng Từ trong tre nứa mà vương vương lòng Qua bao núi tận sông cùng Vẫn hồn ngây ngất giữa lòng cao nguyên. LÁ RƠI GỌI CHIỀU Thu Thủy (Đáp bài "Chiều Nguyên Tiêu ở Văn Miếu") Hồ văn níu bước khách thơ Con thuyền lục bát ngẩn ngơ tròng trành Mây trời in đáy nước xanh Câu lục - câu bát không thành một đôi Người ơi, hội đã tan rồi Gác chuông xao xác lá rơi gọi chiều... VẪN CỨ NGUYÊN TIÊU Nệ chi cứ phải Nguyên Tiêu Đã thi nhân, cứ mỗi chiều thi nhân Dẫu không có ánh trăng ngân Vẫn dìu em… nhẹ đôi chân mỗi chiều. CHIỀU NGUYÊN TIÊU Ở VĂN MIẾU Hội tàn thơ cũng đi rồi Để ai ngơ ngẩn đứng ngồi không yên Chiều về câu lục rơi nghiêng Để cho câu bát chung chiêng nỗi sầu Trách ai để lỡ nhịp cầu Câu thơ lục bát nát nhàu hồn ta Khuê Văn vời vợi trôi xa Làn Mây Trắng gọi lòng ta...dịu dàng Xuân vui nở lộc mịn màng Một chiều văn Miếu...chiều vàng hồn ta Tàn chiều - ngơ ngẩn vào ra Còn nghe văng vẳng gần xa...giọng Người. VALENTINE-MỘT NGÀY… Sáng ngày ra Anh trao em Hộp sô-cô-la Ngọt ngào quyến rũ Trưa nắng hồng Anh dắt em Lên vòm tháp cũ Phiêu diêu Gió thổi ngọt ngào Nắng trưa thả vàng hanh hao Anh đưa em vào màu xanh hoa trái Chậm rãi Chiều về Ta dãi dề triền đê Hương cỏ mật Tỏa mùi thơm Ngọt ngào đầu lưỡi Đêm về Men tình bổi hổi Dìu nhau Lên đỉnh tình thiêng Trời bung biêng Đất chung chiêng Ngất ngây Hà hổn Du miên Nuỗng nà... VẪN CỨ NGUYÊN TIÊU Nệ chi cứ phải Nguyên Tiêu Đã thi nhân, cứ mỗi chiều thi nhân Dẫu không có ánh trăng ngân Vẫn bên em nhẹ đôi chân mỗi chiều. CHÙM THƠ VỀ ĐÀ LẠT 1.ĐƯỜNG LÊN Xe cheo leo đưa ta lên cao nguyên Thông bên ta, ta bên thông đan xen Bỗng gặp Đơn Dương vùng đất phẳng Gió rừng mang lạnh tự đèo bên. 2.MƯA Mưa rừng gọi con nai kêu đêm Nghe ớn lạnh giữa ngày hè nhiệt đới Mưa Đà Lạt dẫu không là mong đợi Vẫn đọng trong ta bao nỗi bồi hồi. 3.HỒ THAN THỞ Xin chớ biến mình thành kẻ thờ ơ: Khi ngắm cảnh quan bên Hồ Than Thở Hãy đi ngược dòng đời quá khứ: Đếm đủ cặp tình từng than thở mơi đây! 4.LANG BIANG K'Lang cùng với Hơ Biang(*) Mối tình oan nghiệt sầu thương muôn đời Hận hờn muôn thuở đầy vơi Còn bâng khuâng cả một trời Lang Biang. --------------------------------------------------- (*)Huyền thoại về đỉnh Lang Biang. 5. THÁC HANG CỌP Anh hùng giết cọp(*), Người ơi! Ngàn năm đứng đó cho Đời cậy tin Canh cho giấc ngủ êm đềm Canh cho mảnh đất cao nguyên an lành. -------------------------------------------------- (*)Huyền thoại về Thác Hang Cọp. 6. NÉT RIÊNG ĐÀ LẠT Nét riêng Đà Lạt gì đây? Tiết trời se lạnh, mây bay ngang đèo Sương rơi bảng lảng trời chiều Nét riêng Đà Lạt: Hiu hiu nỗi buồn. 7. ĐÀ LẠT ƠI! Đà Lạt ơi! Đà Lạt ơi! Đi trong em giữa một trời đầy hoa Trong em: Biếc ngọc, xanh ngà Trong em: Ngập giữa bao la sắc màu. 8. GỬI EM Đà Lạt đông về có lạnh không em? Anh gửi về em trong nỗi niềm giăng mắc: Ít tia nắng Sài-gòn, ít gió hanh miền Bắc Cùng ngọn lửa lòng đến tận đáy tim em! TRAO NHAU Trao nhau hơi thở nồng nàn Quờ tay bỗng chạm... mịn màng non tơ Hổn hà hổn hển trong mơ Ấp ôm hạo hực, u ơ ta mình Nâng nhau tới đỉnh nuông tình Dẫu cho xiêu quán đổ đình... vẫn nâng! BÀI CA MÙA THU Ai viết mùa xuân chim ca Ai viết mùa hè sen mở Ai viết mùa đông sương sa Ta viết mùa thu cúc nở Ngày sinh em Mây nhởn nhơ bay Gió về u ủ Lăn tăn sóng nước sông gầy Câu hát ầu ơ trôi vào giấc ngủ Biết nhau từ ngày xưa cũ: Ngác ngơ sóng nước Hồ Tây Đêm trừ tịch sắc đào hây hây Tiếng giao thừa lẳng lặng Một câu thơ rung, một làn sương trắng Nghe hồn mơ linh tưởng dập dìu Trong tiếng lòng hà hổn, phiêu diêu Hà Nội vào chiều Sông Hồng háo hức Nắng bồn chồn, rạo rực Heo may thổi tàn ngâu Ta cùng em về đâu? Môi gắn môi xao xuyến Mắt tình trao lúng liếng Trôi nhau vào lung liêng Dìu nhau lên đỉnh du miên Dịu ngọt vào nhau sâu thẳm Ơi, từ thuở Tây Hồ đuối đắm Để hôm nay rạo rực sóng Hồng... Thu về thấp thỏm bên sông Vẳng nghe linh tưởng động rung chiều vàng Kể từ buổi ấy xốn xang Đã nay réo rắt tiếng đàn ngân nga Thu hời, thu hỡi! Ời a... 28-8-2011 MÙA EM Em không phải là mùa của đầu năm Nhưng thời tiết chẳng gì lạnh-nóng Dẫu em không phải là mùa xuân Vẫn gió reo vui mát lành nồng ấm Em đến hạ lui vào cõi vắng Để rồi cái nóng cũng đi theo Nắng chạy trốn trong vòm mây trắng Gió vật vờ trêu ngọn cải liêu điêu Em mặc định cúc vàng phiêu diêu Gió heo may thiết thao mùa sáng Trời bảng lảng một màu nắng trắng Chim ngói về rợp cánh chiều em Mưa đông che màn trời giăng giăng Vẫn mùa em nồng nàn đằm thắm Đông dẫu đến mùa em vẫn ấm Vẫn cúc vàng óng ả long lanh... * Bởi rằng mùa vẫn cứ xanh Mùa em Mãi mãi cho anh ngọt ngào Mùa em Nghe gió xạc xào Cho hồn anh gửi dạt dào Mùa em! MÂY Em là mây bay Anh là cá nhảy Mây thành nước chảy Cá ùa dòng em Nước chảy êm êm Hòa vào lòng cá Nghe lời nuông nã Trong nhau bồi hồi Ngất ngây nghiêng ngả đất trời Cá vờn trong nước nói lời con tim. TA-MÌNH Xa thân nhưng chẳng xa lòng Xa nhau nhưng đã mặn nồng trong nhau Ta-Mình đến tận thẳm sâu Và đi tới tận khát khao của tình Ai đưa Ta đến với Mình Ai đưa Mình đến gieo tình trong Ta Không ai! Chỉ bởi Mình-Ta Từ duyên tơ chắp cho Ta, cho Mình ... RẠO RỰC Dáng ngọc phiêu du đằm trong mộng Nhưng hồn say đã quyện tơ lòng Đã ngây ngất trong tình thi xao động Một trời yêu ngút ngát mênh mông! Chiều nay nghe cơn mưa đưa đông Bàn tay háo tìm miền sâu thẳm... Nghe run rẩy lời em văng vẳng Rạo rực anh căng sức trâu đồng... Bàn tay ham – bàn tay run run Chạm tới tận miền yêu ngây ngất Để không gian nghiêng trời đổ đất Để thời gian mãi mãi hôm nay... ĐÊM MỘNG Dáng ngọc phiêu du đằm đêm mộng Nhưng hồn say đã quyện tơ lòng Đã ngây ngất trong tình thi xao động Một trời yêu ngút ngát mênh mông! Chiều nay nghe cơn mưa đưa đông Bàn tay háo tìm miền sâu thẳm Nghe run rẩy lời em văng vẳng Rạo rực anh căng sức trâu đồng... Bàn tay ham – bàn tay run run Chạm tới tận miền yêu ngây ngất Để không gian nghiêng trời đổ đất Để thời gian đằng đẵng mê say... Để hình rực cháy trong tay Để hồn thẫm chín trong cây thi tình Vào nhau Sâu thẳm, hỡi mình! Trao hồn nghiêng ngả Trao hình ngả nghiêng Dìu nhau vào cõi bung biêng! NGƯỜI XƯA Vắng bóng người xưa thấy nhớ nhiều Kiếm tìm không gặp bóng hình yêu Cay cay giấc ngủ ròng đêm trắng Chát chát cơm ăn sáng lẫn chiều Bởi nhớ càng thêm tim nhức nhói Vì thương ngọc thể dáng liêu xiêu Ôm buồn ngóng đợi nhiều năm tháng Đón gặp người xưa trong tiếng yêu! CHUỖI ĐỢI Đã mấy thu rồi nhớ dáng ai Thướt tha lả lướt buổi chiều phai Tóc mây vai xõa vờn khi tối Da ngọc thơm nồng buổi sáng mai Mắt biếc long lanh làn bích thủy Má hồng tươi đỏ chẳng tàn phai Xa nhau mang nhớ vùi trong mộng Tháng tháng năm năm chuỗi đợi dài. KHAO KHÁT HOA SƯA Kể từ ngày ấy vào Thu Trong anh mang mãi khúc ru gọi tình Khát khao! Anh khát khao mình! Hoa sưa đưa lối anh tìm dấu chân Trúc Hồ Cá có nổi tăm? Để cho điếu khách đăm đăm đợi chờ Thu nay trăng tỏ hay mờ? Lòng anh khao khát Đón chờ Hoa sưa. CHỐN VỀ Chốn về thao thức người đi mãi Ngọn gió quạnh hiu ngủ dưới thềm Tia nắng cuối ngày nghiêng lối nhỏ Dế còm ru khúc nhạc vào đêm Bóng lẻ trăng vơi cõi mộng huyền Nhớ thuở chốn về trong tay gối Nghe lòng vời vợi nỗi niềm riêng Cái thuở chốn về ai có quên? Để ai nhớ mãi mái trời nghiêng Hạt mưa thuở ấy nghe lòng lạnh Cho đến hôm nay vẫn nỗi niềm Mãi đến hôm nay vẫn nỗi niềm Để lòng ôm trọn mảnh tình riêng Có nghe xao xuyến lời ai đó Chốn về - chốn ấy mộng hồn thiêng. THƠ EM Gặp em đôi ba lần trong đời Chỉ đọc thơ em ngời ngời trên mạng: Hồ hởi bình mình khi trời sáng U uất hoàng hôn khi trời chiều Con gió mùa thu phiêu diêu Cái nắng lửa thiêu mùa hạ Thơ em mùa xuân hoa nở Gọi ấm nồng mùa đông Thơ em thao thiết lòng Thơ em hồn day dứt Khi giăng giăng lộng cánh chim hồng Lúc ẩn ức âm thầm chim vạc Thơ em lòng man mác Gửi hồn vào lòng anh Thơ em vàng-đỏ-trắng-xanh... Thơ em muôn sắc cho anh thẫn thờ! CHỐN VỀ Chốn về thao thức người đi mãi Chiếc gió quạnh hiu ngủ dưới thềm Tia nắng cuối ngày nghiêng lối ngõ Dế còm kêu khúc nhạc sầu đêm. XA MẶT SÁT LÒNG Mặt xa nhưng chẳng cách lòng Xa nhau mà đã mặn nồng trong nhau Bàn tay tìm đến thẳm sâu Luồn vào tới tận thẳm sâu của tình Ai đưa ta đến với mình Ai đưa mình đến gieo tình trong ta Không ai! Từ cõi thi ca Từ duyên tơ chắp cho ta với mình! XUÂN EM Giọt sương long lanh Treo trên cành nhớ Lộc ươm xanh xanh Ngậm vành môi nở Gió thả tơ mành Gọi tình bên cửa Ai gieo ấp ủ Vào hồn xuân ta?